Bản tin pháp luật tuần 22 năm 2021

Thứ năm - 27/05/2021 10:53
Giới thiệu các văn bản pháp luật mới và các văn bản có hiệu lực trong tuần
Ảnh bản tin pháp luật
Ảnh bản tin pháp luật

Ngày 17/5/2021, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 31/2021/TT-BTC quy định về áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế; Ngày 19/5/2021, Bộ Xây dựng ban hành Thông tư 03/2021/TT-BXD về QCVN 04:2021/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Nhà chung cư. Phòng Tư pháp thành phố thông báo để các cơ quan, đơn vị thành phố, UBND các xã, phường được biết và tuyên truyền, cụ thể như sau:

1. Tăng cường quản lý rủi ro trong quản lý thuế
Trong quá trình triển khai áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế trên thực tế thời gian qua có phát sinh một số nội dung chưa thực sự phù hợp, cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện để phù hợp với tình hình thực tế, yêu cầu cải cách, hiện đại hóa hệ thống thuế, thông lệ quốc tế, cũng như để  bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế.
Ngày 17/5/2021, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 31/2021/TT-BTC quy định về áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế. Theo Tổng cục Thuế, thực hiện nhiệm vụ được phân công dự thảo trình Bộ Tài chính hướng dẫn về quản lý rủi ro trong quản lý thuế (khoản 6 Điều 9 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14), Tổng cục Thuế đã trình Bộ Tài chính các nội dung quan trọng về nhiệm vụ này.
Theo đó, việc áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật, gồm: Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 nay là Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, Nghị định số 83/2013/NĐ-CP, Thông tư số 156/2013/TT-BTC và được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 204/2015/TT-BTC ngày 21-12-2015 của Bộ Tài chính, tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế một cách đầy đủ, toàn diện, góp phần cải cách, hiện đại hóa công tác quản lý thuế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai áp dụng trên thực tế thời gian qua có phát sinh một số nội dung chưa thực sự phù hợp, cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện để phù hợp tình hình thực tế, yêu cầu cải cách, hiện đại hóa hệ thống thuế, thông lệ quốc tế, cũng như để  bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế.
Cụ thể về cơ chế xây dựng quản lý rủi ro trong quản lý thuế, tại Thông tư 204 hướng dẫn việc áp dụng quản lý rủi ro mới chỉ đang thực hiện riêng lẻ ở một số chức năng quản lý thuế dẫn tới khi xây dựng các Bộ tiêu chí có nhiều tiêu chí trùng lặp nhau; doanh nghiệp thuộc phân hạng rủi ro cao ở bộ tiêu chí đánh giá rủi ro về hóa đơn, được kiểm tra về hoá đơn ở kỳ này đồng thời có thể thuộc danh sách doanh nghiệp rủi ro cao ở bộ tiêu chí đánh giá rủi ro đối với hồ sơ kiểm tra nên lại bị kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế ở kỳ sau hoặc là doanh nghiệp đã nằm trong danh sách thanh, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế. Từ đó gây khó khăn cho việc xây dựng ứng dụng, khó khăn trong việc liên kết kiểm tra và phối hợp thực hiện các biện pháp quản lý thuế phù hợp khác.
Về đánh giá tuân thủ pháp luật thuế đối với người nộp thuế, việc quy định điều kiện đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật thuế đối với người nộp thuế như tại Thông tư số 204/2015/TT-BTC dẫn đến số lượng người nộp thuế được đánh giá là tuân thủ pháp luật thuế tốt chiếm tỷ lệ thấp, do có nhiều tiêu chí đánh giá khắt khe như: không chấp nhận kê khai, nộp thuế không đúng hạn hoặc có nợ thuế dù số rất nhỏ so với số phải nộp, đã nộp.
Từ thực trạng đánh giá trên đây, cũng như kinh nghiệm thực hiện của Tổng cục Hải quan và tư vấn của các chuyên gia trong và ngoài nước, nên xem xét đến độ mở nhất định đối với một số quy định về kê khai thuế, nộp thuế, nợ thuế, cho phép một sai số cho trường hợp bất khả kháng  bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế và đáp ứng yêu cầu quản lý trong từng thời kỳ.
Về việc áp dụng quản lý rủi ro trong lựa chọn trường hợp thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế, Tổng cục Thuế cho biết, bên cạnh các các nội dung nêu trên, khi triển khai thực hiện các quy định tại Thông tư số 204/2015/TT-BTC trong lựa chọn trường hợp thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế đã phát sinh một số điểm chưa đồng nhất với các văn bản liên quan.
Như theo quy định của Thông tư số 204/2015/TT-BTC, danh sách thanh tra do Bộ trưởng Tài chính quyết định; danh sách kiểm tra do Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế quyết định. Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 2, 3, 4 Điều 14 Nghị định số 82/2012/NĐ-CP ngày 09-10-2012 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động Thanh tra Ngành tài chính quy định Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt Kế hoạch thanh tra của Thanh tra của Tổng cục, Tổng cục trưởng phê duyệt Kế hoạch thanh tra của cấp Cục thuộc Tổng cục; Cục trưởng Cục Thuế phê duyệt Kế hoạch thanh tra của Chi cục Thuế. Ngoài ra, tỷ lệ thanh kiểm tra trên tổng số doanh nghiệp đang hoạt động cần nâng lên cho phù hợp với yêu cầu của Chính phủ.
Về việc áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý hoàn thuế, Luật Quản lý thuế mới đã thay đổi thời gian kiểm tra, thanh tra sau hoàn thuế đối với trường hợp phải kiểm tra, thanh tra theo nguyên tắc rủi ro trong thời hạn 5 năm (thay vì 10 năm như trước đây) kể từ ngày có quyết định hoàn thuế và thay đổi về thời hạn kiểm tra đổi với những hồ sơ kiểm tra sau hoàn thuế. Do vậy Thông tư cũng cần thay đổi theo cho phù hợp.
Riêng về việc áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý hoá đơn điện tử, Tổng cục Thuế khẳng định, Luật Quản lý thuế mới đã bổ sung quy định về áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý hoá đơn điện tử, xác định những trường hợp rủi ro cao về thuế phải sử dụng hoá đơn điện tử có mã của cơ quan thuế. Do vậy Thông tư 204 cũng cần được sửa đổi theo.
Đây là việc thực thi nhiệm vụ cụ thể hóa chủ trương định hướng quản lý thuế theo mức độ rủi ro và mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, xác định tính hợp lệ của giao dịch kinh tế dựa trên cơ sở giao dịch tiền hàng được Chính phủ giao cho Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế tại Nghị quyết 19-2017/NQ-CP ngày 06-02-2017 của Chính phủ.
Tổng cục Thuế cũng cho biết, đã nhiều lần lấy ý kiến tham gia của các đơn vị thuộc thuộc Bộ, Tổng cục Thuế, các cục Thuế, các Bộ ngành và cộng đồng xã hội. Theo đó, Bộ Tài chính đã gửi lấy ý kiến của 5 bộ, ngành (Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin truyền thông, Bộ Công thương, Ngân hàng nhà nước, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam), trong đó chỉ riêng Ngân hàng Nhà nước là chưa có ý kiến bằng văn bản. Đối với cộng đồng xã hội, Tổng cục Thuế đã đăng tải dự thảo Thông tư trên trang thông tin điện tử của Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế theo quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đến nay, không nhận được ý kiến tham gia nào.
Ý kiến thẩm định của Vụ Pháp chế (Bộ Tài chính) ghi rõ: trên cơ sở ý kiến tham gia của các đơn vị nêu trên, Tổng cục Thuế đã tiếp thu, giải trình, chỉnh lý và hoàn thiện dự thảo. Về cơ bản, ý kiến thẩm định là thống nhất.
Cụ thể về sự cần thiết, tính khả thi, cơ sở pháp lý của việc ban hành Thông tư là cần thiết, khả thi trong thực hiện,  bảo đảm cơ sở pháp lý để ban hành.
Về thủ tục soạn thảo Thông tư, dự thảo Thông tư đã được xây dựng và hoàn thiện trên cơ sở ý kiến các Bộ, ngành, các Hiệp hội, các đơn vị có liên quan và có đăng tải trên trang tin điện tử của Bộ, Chính phủ theo quy định tại “Điều 101 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và khoản 1 Điều 25 Nghị định số 35/2016/NĐ-CP.
Về dự thảo Thông tư, đã bảo đảm phù hợp với quy định tại Luật Quản lý thuế về cơ chế xây dựng quản lý rủi ro trong quản lý thuế; đánh giá tuân thủ pháp luật thuế... Bên cạnh đó, Vụ Pháp chế có một số ý kiến nghiệp vụ và đã được Tổng cục Thuế điều chỉnh.
Theo quy định của Thông tư, trách nhiệm thi hành của các bên bao gồm: Các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài ngành có liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin và phối hợp trong công tác áp dụng quản lý rủi ro. Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế có trách nhiệm ban hành các chỉ số tiêu chí, quy định các biện pháp thu thập xử lý thông tin, quy trình, quy chế, quy định hướng dẫn việc áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế. Đơn vị quản lý rủi ro (Tổng cục Thuế) là đơn vị đầu mối, chủ trì quản lý, vận hành, triển khai công tác quản lý rủi ro trong quản lý thuế.
Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 02/7/2021.
2. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà chung cư
Ngày 19/5/2021, Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 03/2021/TT-BXD về việc ban hành QCVN 04:2021/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà chung cư.
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 05/7/2021 và thay thế Thông tư số 21/2019/TT-BXD ngày 31/12/2019 ban hành QCVN 04:2019/BXD quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Nhà chung cư.
Theo đó, diện tích tối thiểu của căn hộ được quy định như sau:
- Đối với căn hộ chung cư phải có tối thiểu một phòng ở và một khu vệ sinh; diện tích sử dụng tối thiểu của căn hộ chung cư không nhỏ hơn 25 m2 và phải được chiếu sáng tự nhiên. Căn hộ có từ 2 phòng ở trở lên, cho phép một phòng ở không có chiếu sáng tự nhiên. Phòng ngủ phải được thông thoáng, chiếu sáng tự nhiên. Diện tích sử dụng của phòng ngủ trong căn hộ chung cư không được nhỏ hơn 9 m2.
- Đối với căn hộ lưu trú: Diện tích sử dụng không nhỏ hơn 25 m2.
Đối với văn phòng kết hợp lưu trú: Diện tích sử dụng không nhỏ hơn 25 m2, trong đó diện tích của khu vực làm việc tối thiểu 9 m2. Không bố trí bếp trong văn phòng kết hợp lưu trú.
Không gian sinh hoạt cộng đồng đảm bảo diện tích sử dụng bình quân tối thiểu đạt 0,8 m2/căn hộ
Về không gian sinh hoạt cộng đồng được quy định như sau:
- Nhà chung cư, phần căn hộ chung cư trong nhà chung cư hỗn hợp phải bố trí không gian sinh hoạt cộng đồng đảm bảo diện tích sử dụng bình quân tối thiểu đạt 0,8 m2/căn hộ, trong đó phải có không gian phù hợp để tổ chức hội nghị cư dân.
- Đối với cụm nhà chung cư trong một dự án xây dựng khi không bố trí được không gian sinh hoạt cộng đồng trong từng tòa nhà, cho phép kết hợp tại một vị trí hoặc khu vực riêng biệt với tổng diện tích cho sinh hoạt cộng đồng được giảm tối đa 30%; bán kính từ sảnh các tòa nhà tới nơi sinh hoạt cộng đồng không quá 300 m và cần tính toán, thuyết minh đảm bảo nhu cầu sinh hoạt thuận tiện cho cư dân.
Phần chức năng khác như văn phòng, nhà hàng, siêu thị, khách sạn, căn hộ lưu trú (condotel), văn phòng kết hợp lưu trú (officetel) và các dịch vụ khác trong nhà chung cư hỗn hợp phải được thiết kế tuân thủ quy định hiện hành và các tiêu chuẩn lựa chọn áp dụng.
Nhà chung cư, nhà chung cư hỗn hợp phải có chỗ để xe của người khuyết tật
Chỗ để xe của nhà chung cư, phần căn hộ trong nhà chung cư hỗn hợp phải tuân thủ các yêu cầu của QCVN 13:2018/BXD và phải tính toán đảm bảo các yêu cầu sau:
- Phải nằm trong phần diện tích của dự án đã được phê duyệt; phải bố trí khu vực để ô tô riêng với xe máy, xe đạp.
- Diện tích chỗ để xe (bao gồm đường nội bộ trong gara/bãi để xe) tối thiểu là 25 m2 cho 4 căn hộ chung cư, nhưng không nhỏ hơn 20 m2 cho 100 m2 diện tích sử dụng căn hộ chung cư, trong đó đảm bảo tối thiểu 6 m2 chỗ để xe máy, xe đạp cho mỗi căn hộ chung cư.
- Chỗ để xe sử dụng gara cơ khí hoặc tự động thì cứ 100 m2 diện tích sử dụng của căn hộ chung cư phải có tối thiểu 12 m2 diện tích chỗ để xe trong gara (đối với gara cơ khí nhiều tầng thì diện tích chỗ để xe được nhân với số tầng của gara cơ khí). Đường giao thông dẫn vào gara cơ khí phù hợp với công nghệ của gara cơ khí và phải đảm bảo tuân thủ các quy định hiện hành.
Đối với phần căn hộ lưu trú và phần văn phòng kết hợp lưu trú trong nhà chung cư hỗn hợp, điện tích chỗ để xe (bao gồm đường nội bộ trong gara/bãi để xe) của phải tính toán đảm bảo tối thiểu 20 m2 cho 160 m2 diện tích sử dụng căn hộ lưu trú và phần văn phòng kết hợp lưu trú; phải nằm trong phần diện tích của dự án đã được phê duyệt.
Bên cạnh đó, nhà chung cư, nhà chung cư hỗn hợp phải có chỗ để xe của người khuyết tật, vị trí và số lượng tính toán chỗ đỗ xe của người khuyết tật tuân thủ QCVN 10:2014/BXD.
Phải có họng nước chữa cháy cho lực lượng chữa cháy bố trí ở mỗi tầng
Hệ thống cấp nước chữa cháy trong nhà và hệ thống cấp nước chữa cháy ngoài nhà phải tuân thủ các quy định của QCVN 06:2021/BXD và đảm bảo các yêu cầu sau:
- Khi chưa có hệ thống cấp nước chữa cháy ngoài nhà hoặc không đảm bảo lưu lượng, áp lực nước chữa cháy (cột áp) thì phải có nguồn nước dự trữ đảm bảo lưu lượng nước chữa cháy của hệ thống họng nước chữa cháy bên trong nhà ít nhất trong 3giờ.
- Nhà có chiều cao phòng cháy chữa cháy lớn hơn 50 m phải có họng nước chữa cháy cho lực lượng chữa cháy bố trí ở mỗi tầng, cửa căn hộ xa nhất của tầng phải nằm trong phạm vi 45 m tính từ họng nước chữa cháy (có tính toán đến đường di chuyển). Họng chờ phải đặt trong khoang đệm ngăn cháy (khoang đệm của buồng thang bộ không nhiễm khói hoặc khoang đệm của thang máy chữa cháy). Hệ thống họng chờ cấp nước chữa cháy cho lực lượng chữa cháy phải có họng chờ lắp đặt ở ngoài nhà để tiếp nước từ xe hoặc máy bơm chữa cháy và được nối với đường ống cấp nước chữa cháy trong nhà. Họng chờ phải thỏa mãn các quy định hiện hành.
- Các họng nước chữa cháy trong nhà phải bố trí tại những nơi dễ tiếp cận sử dụng. Lưu lượng cần thiết của hệ thống họng nước chữa cháy trong nhà được lấy theo tiêu chuẩn kỹ thuật được lựa chọn áp dụng, riêng đối với nhà có chiều cao phòng cháy chữa cháy trên 50 m và diện tích sàn của mỗi tầng lớn hơn 1500 m2, các tầng ở phải đảm bảo lưu lượng nước chữa cháy cho không ít hơn 4 tia phun chữa cháy, mỗi tia phun có lưu lượng 2,5 L/s trong khoảng thời gian chữa cháy tính toán nhưng không ít hơn 1 h. Mỗi điểm của tầng phải đảm bảo có hai họng nước chữa cháy phun tới đồng thời.
- Cấp nước chữa cháy cho các hệ thống chữa cháy phải thực hiện theo các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành về phòng cháy chữa cháy.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
VĂN BẢN CHỈ ĐẠO ĐIỀU HÀNH

Số: 155/KH-UBND

Kế hoạch Tổ chức “Tháng hành động vì môi trường” hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới và Ngày quốc tế đa dạng sinh học trên địa bàn thành phố Lào Cai năm 2021

Lượt xem:11 | lượt tải:2

Số: 831/BCH-TT

Tăng cường công tác phòng, tránh ứng phó với mưa lớn, dông, lốc, sét, mưa đá, lũ quét, sạt lở đất

Lượt xem:10 | lượt tải:2

Số: 151/KH-UBND

Kế hoạch triển khai Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 4 tuổi thành phố Lào Cai giai đoạn 2021-2025

Lượt xem:16 | lượt tải:2

Số: 578/HĐPH-TP

Đẩy mạnh tuyên truyền các quy định của pháp luật liên quan đến Luật Trẻ em 2016

Lượt xem:14 | lượt tải:2

Số: 48 KH/TU

Kế hoạch tổng kết 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân trên địa bàn thành

Lượt xem:15 | lượt tải:3

Số: 767/UBND-TP

Hưởng ứng Cuộc thi báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật giỏi về pháp luật phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

Lượt xem:24 | lượt tải:14

Số: 149/KH-UBND

Kế hoạch triển khai tháng hành động vì trẻ em năm 2021

Lượt xem:18 | lượt tải:2

Số: 535/UBND-VHTT

hướng dẫn tạo các điểm kiểm dịch và thực hiện khai báo y tế bằng QR Code trong phòng, chống dịch Covid-19 tại trụ sở làm việc và các địa điểm công cộng trên địa bàn thành phố

Lượt xem:23 | lượt tải:3
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây