Bản tin pháp luật tuần 5 năm 2021

Thứ tư - 17/03/2021 12:48
Giới thiệu các văn bản pháp luật mới và các văn bản có hiệu lực trong tuần 25/01/2021 đến ngày 31/01/2021
Từ ngày 18 đến ngày 24 tháng 01 năm 2021, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành Nghị quyết liên tịch số 09/2021/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 15/01/2021 giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn quy trình hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; Chính phủ ban hành  Nghị định  số 03/2021/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự (TNDS) của chủ xe cơ giới; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 02/2021/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg ngày 21/7/2015 về tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo. Phòng Tư pháp thành phố thông báo để các cơ quan, đơn vị thành phố, UBND các xã, phường được biết và tuyên truyền, cụ thể như sau:
1. Những điểm mới trong hướng dẫn về việc tổ chức Hội nghị cử tri, hiệp thương giới thiệu người ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XV, Đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.
Việc hướng dẫn việc tổ chức hội nghị cử tri; việc giới thiệu người ứng cử đại biểu HĐND cấp xã ở thôn, tổ dân phố; việc hiệp thương, giới thiệu người ứng cử, lập danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu HĐND trong bầu cử bổ sung là nội dung rất quan trọng trong quy trình bầu cử nhằm đảm bảo dân chủ và lựa chọn được những người tiêu biểu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND.
Các nội dung này đã được thể hiện trong Nghị quyết số 1186/2021/UBTVQH14 ngày 11/01/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết, hướng dẫn việc tổ chức hội nghị cử tri; việc giới thiệu người ứng cử đại biểu HĐND cấp xã ở thôn, tổ dân phố; việc hiệp thương, giới thiệu người ứng cử, lập danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND trong bầu cử bổ sung; Nghị quyết liên tịch số 09/2021/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 15/01/2021 giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn quy trình hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; Thông tri 12 ngày 18/01/2021 và Thông tri số 13 ngày 19/01/2021 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  hướng dẫn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.
Phòng Tư pháp giới thiệu những nội dung cơ bản, những nội dung mới của các văn bản nêu trên  như sau:
Một là, việc hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2021-2026 là giai đoạn hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức bầu cử để thỏa thuận cơ cấu thành phần, số lượng người của cơ quan tổ chức đơn vị được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND cũng như lập danh sách sơ bộ và lựa chọn lập danh sách chính thức để bảo đảm dân chủ, lựa chọn được người tiêu biểu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND. Hội nghị hiệp thương sẽ được tiến hành 3 lần.
Về thời gian, hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở mỗi cấp sẽ được tổ chức trong khoảng thời gian từ ngày 03/02/2021 đến 17/02/2021. Do trùng với thời gian nghỉ Tết Nguyên đán, để đảm bảo kịp tiến độ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ nhất vào ngày 04/02/2021. Hội nghị hiệp thương lần thứ hai phải hoàn thành trước ngày 19/03/2021. Hội nghị hiệp thương lần thứ ba phải hoàn thành trước ngày 18/04/2021.
Có ba điểm mới trong kỳ bầu cử lần này là quy định về thời gian đối với Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thường trực HĐND các cấp gửi văn bản điều chỉnh cơ cấu thành phần số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND đến Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tổ chức hội nghị hiệp thương. Danh sách giới thiệu người ứng cử trình ra hội nghị hiệp thương lần thứ hai đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND phải đảm bảo số dư cần thiết để hội nghị xem xét lựa chọn lập danh sách sơ bộ. Danh sách giới thiệu người ứng cử trình ra hội nghị hiệp thương lần thứ ba phải đảm bảo có số dư lớn hơn số dư quy định tại khoản 6 Điều 57 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND.
Hai là, việc hiệp thương giới thiệu người ứng cử đại biểu HĐND ở mỗi cấp do Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp triệu tập, chủ trì và thực hiện. Trong hướng dẫn của Nghị quyết liên tịch số 09/2021/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN đã nêu rõ về thời gian, chủ thể triệu tập, chương trình, nội dung thảo luận, mẫu biên bản, hình thức biểu quyết.
Ba là, về nội dung trình tự, dự kiến người ứng cử đại biểu HĐND cấp xã ở thôn, tổ dân phố lưu ý có điểm mới là Trưởng Ban công tác mặt trận phối hợp với Chi hội trưởng các đoàn thể họp với Bí thư chi bộ, Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng Tổ dân phố để dự kiến người của thôn, tổ dân phố ứng cử đại biểu HĐND cấp xã.
Bốn là, việc tổ chức hội nghị cử tri nơi công tác và nơi cư trú, so với kỳ bầu cử trước, kỳ bầu cử này có quy định về điều kiện thời gian sinh sống thường xuyên liên tục 06 tháng trở lên, không quy định việc xác định nơi lấy ý kiến nơi cư trú của người ứng cử đang ở nhà công vụ, nhà khách, người ứng cử là sỹ quan, chiến sỹ lực lượng vũ trang.
Yêu cầu về tổ chức hội nghị cử tri nơi công tác: số lượng cử tri tham dự ở những nơi có dưới 100 cử tri thì tổ chức hội nghị toàn thể nhưng phải đảm bảo có ít nhất 2/3 tổng số cử tri tham dự. Nơi có từ 100 cử tri trở lên thì có thể tổ chức hội nghị đại diện cử tri nhưng phải đảm bảo ít nhất 70 cử tri tham dự.
Yêu cầu về tổ chức hội nghị cử tri nơi cư trú: yêu cầu số lượng cử tri tham dự ở những nơi có dưới 100 cử tri thì tổ chức hội nghị toàn thể nhưng phải đảm bảo có trên 50% tổng số cử tri tham dự. Nơi có từ 100 cử tri trở lên thì có thể tổ chức hội nghị đại diện cử tri nhưng phải đảm bảo ít nhất 55 cử tri tham dự.
Năm là, kỳ bầu cử này quy định người ứng cử đại biểu Quốc hội đang công tác tại cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc hội thì tổ chức lấy ý kiến cử tri tại Văn phòng Quốc hội, bao gồm cả cử tri của Viện nghiên cứu lập pháp.
Đối với người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đang công tác tại Thường trực HĐND, các Ban của của HĐND cấp tỉnh thì tổ chức lấy ý kiến cử tri  tại Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND  hoặc Văn phòng HĐND cấp tỉnh.
Sáu là, việc tổ chức hội nghị lấy ý kiến nhận xét cử tri lần này có điểm mới: trường hợp được dự kiến ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND không đạt sự tín nhiệm của trên 50% số cử tri tham dự hội nghị cử tri nơi công tác thì ban lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị tổ chức việc giới thiệu người khác.
Những trường hợp giới thiệu người ứng cử không đạt sự tín nhiệm của trên 50% số cử tri tham dự hội nghị cử tri nơi cư trú thì không đưa vào danh sách giới thiệu tại hội nghị hiệp thương lần thứ 3, trừ trường hợp đặc biệt cần báo cáo rõ tại hội nghị hiệp thương xem xét, quyết định.
Bảy là, trong thời gian này, thực hiện việc xác định và trả lời các vụ việc do cử tri nêu đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND chậm nhất vào ngày 13/04/2021 phải được tiến hành xong.
Tám là, việc hiệp thương giới thiệu người ứng cử trong bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải được tổ chức và thực hiện theo quy định tại Mục 2, Mục 3 Chương V của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND. Thời gian thực hiện theo quy định tại Điều 8 của Nghị quyết số 1186/2021/UBTVQH14 ngày 11/01/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Những điểm đáng chú ý về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới
Ngày 15/01/2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 03/2021/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự (TNDS) của chủ xe cơ giới.
Cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm điện tử
Theo Nghị định trên, Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới là bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới với doanh nghiệp bảo hiểm. Mỗi xe cơ giới được cấp 1 Giấy chứng nhận bảo hiểm.
Khi mua bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới, chủ xe cơ giới được doanh nghiệp bảo hiểm cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm cho chủ xe cơ giới khi chủ xe cơ giới đã đóng đủ phí bảo hiểm hoặc có thỏa thuận với chủ xe cơ giới về thời hạn thanh toán phí bảo hiểm theo quy định của Bộ Tài chính.
Nghị định nêu rõ, trường hợp cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm điện tử, doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ các quy định của Luật Giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn thi hành; Giấy chứng nhận bảo hiểm điện tử phải tuân thủ đầy đủ các quy định hiện hành và phản ánh đầy đủ các nội dung quy định.
Mức tăng phí bảo hiểm tối đa là 15%
Nghị định quy định phí bảo hiểm là khoản tiền mà chủ xe cơ giới phải thanh toán cho doanh nghiệp bảo hiểm khi mua bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới.
Bộ Tài chính quy định phí bảo hiểm dựa trên số liệu thống kê, bảo đảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm, tương ứng với điều kiện bảo hiểm, mức trách nhiệm bảo hiểm, mức độ rủi ro theo loại xe cơ giới và mục đích sử dụng
Căn cứ vào lịch sử tai nạn của từng xe cơ giới và năng lực chấp nhận rủi ro của mình, doanh nghiệp bảo hiểm chủ động xem xét, điều chỉnh tăng phí bảo hiểm. Mức tăng phí bảo hiểm tối đa là 15% tính trên phí bảo hiểm do Bộ Tài chính quy định.
Về mức trách nhiệm bảo hiểm, Nghị định quy định: Mức trách nhiệm bảo hiểm là số tiền tối đa mà doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải trả đối với thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và tài sản của bên thứ ba và hành khách do xe cơ giới gây ra trong mỗi vụ tai nạn xảy ra thuộc phạm vi bồi thường thiệt hại.
Căn cứ chi phí thực tế về giá dịch vụ khám, điều trị, chăm sóc y tế và chi phí khắc phục thiệt hại đối với tài sản, Bộ Tài chính quy định mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới.
Thời hạn bảo hiểm xe gắn máy tối đa 03 năm
Nghị định 03/2021/NĐ-CP quy định thời hạn bảo hiểm ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm như sau:
- Đối với xe mô tô hai bánh, ba bánh, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe có kết cấu tương tự theo quy định của Luật Giao thông đường bộ, thời hạn bảo hiểm tối thiểu là 01 năm và tối đa là 03 năm.
- Đối với các xe cơ giới còn lại, thời hạn bảo hiểm tối thiểu là 01 năm và thời hạn tối đa tương ứng với thời hạn kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường định kỳ có thời hạn trên 01 năm.
- Trong các trường hợp sau, thời hạn bảo hiểm dưới 01 năm: Xe cơ giới nước ngoài tạm nhập, tái xuất có thời hạn tham gia giao thông trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới 01 năm; niên hạn sử dụng của xe cơ giới nhỏ hơn 01 năm theo quy định của pháp luật; xe cơ giới thuộc đối tượng đăng ký tạm thời theo quy định của Bộ Công an.
Trường hợp chủ xe cơ giới có nhiều xe tham gia bảo hiểm vào nhiều thời điểm khác nhau trong năm nhưng đến năm tiếp theo có nhu cầu đưa về cùng một thời điểm bảo hiểm để quản lý, thời hạn bảo hiểm của các xe này có thể nhỏ hơn 01 năm và bằng thời gian hiệu lực còn lại của hợp đồng bảo hiểm giao kết đầu tiên của năm đó.
Mức bồi thường bảo hiểm
Khi tai nạn xảy ra, trong phạm vi mức trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho người được bảo hiểm số tiền mà người được bảo hiểm đã bồi thường hoặc sẽ phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Trong vòng 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm về vụ tai nạn, doanh nghiệp bảo hiểm phải tạm ứng bồi thường đối với thiệt hại về sức khỏe, tính mạng. Mức tạm ứng từ 10-70% mức trách nhiệm bảo hiểm theo quy định.
Về mức bồi thường bảo hiểm, Nghị định nêu rõ: Mức bồi thường cụ thể về sức khỏe, tính mạng được xác định theo từng loại thương tật, thiệt hại theo Bảng quy định trả tiền bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng theo quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này hoặc theo thoả thuận (nếu có) giữa người được bảo hiểm và người bị thiệt hại hoặc người thừa kế của người bị thiệt hại (trong trường hợp người bị thiệt hại đã chết) hoặc đại diện của người bị thiệt hại (trong trường hợp người bị thiệt hại mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án hoặc chưa đủ sáu tuổi), nhưng không vượt quá mức bồi thường quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này. Trường hợp có quyết định của Tòa án thì căn cứ vào quyết định của Tòa án nhưng không vượt quá mức bồi thường quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
Mức bồi thường cụ thể về thiệt hại đối với tài sản/1 vụ tai nạn được xác định theo thiệt hại thực tế và theo mức độ lỗi của người được bảo hiểm nhưng không vượt quá mức trách nhiệm bảo hiểm.
3. Từ ngày 30/3, các hộ mới thoát nghèo sẽ tiếp tục được vay vốn chính sách.
Kể từ ngày 30/3/2021, Ngân hàng Chính sách Xã hội tiếp tục được thực hiện giải ngân chương trình tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo, thay vì giải ngân đến hết ngày 31/12/2020 như quy định tại Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg.
Đây là nội dung được quy định tại Quyết định số 02/2021/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg ngày 21/7/2015 về tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo.
Hiện nay mức cho vay tối đa của chương trình là 100 triệu đồng/hộ, lãi suất 8,25%/năm. Thời hạn cho vay do Ngân hàng Chính sách Xã hội và hộ mới thoát nghèo thỏa thuận trên cơ sở chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng nhưng không quá 5 năm.
Ngân hàng Chính sách Xã hội cho biết, sau 5 năm thực hiện chương trình tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo đã có trên 1,4 triệu lượt hộ mới thoát nghèo được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách Xã hội, với doanh số cho vay gần 62.000 tỷ đồng; trong đó ưu tiên tập trung vốn cho hộ mới thoát nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số, các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Đồng thời, thu hút, tạo việc làm cho trên 1 triệu lao động có vốn phát triển sản xuất, kinh doanh. Vốn tín dụng chính sách xã hội đã trực tiếp góp phần thực hiện 7/11 nội dung thành phần của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và 8/19 tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới.
Tín dụng ưu đãi đối với hộ mới thoát nghèo đã giải quyết triệt để vòng luẩn quẩn “nghèo - vay vốn - thoát nghèo - trả vốn - tái nghèo”; đã đạt hiệu quả tích cực, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, của người nghèo và các đối tượng chính sách khác trong phạm vi cả nước.


Đàm Thị Phượng - Phó Trưởng phòng Tư pháp thành phố Lào Cai

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

VĂN BẢN CHỈ ĐẠO ĐIỀU HÀNH

241/KH-HĐNVQS

Kế hoạch tuyển chọn, gọi cong dân nhập ngũ năm 2022

Lượt xem:12 | lượt tải:5

735/HĐPH

Phát động hưởng ứng Cuộc thi trực tuyến toàn quốc “Tìm hiểu Luật cảnh sát biển Việt Nam” do Bộ Quốc phòng phát động

Lượt xem:11 | lượt tải:3

4398/UBND-VX

Phát động phong trào thi đua phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Lượt xem:15 | lượt tải:5

736/STP-PBGDPL

Hưởng ứng Cuộc thi“Tìm hiểu pháp luật về phòng, chống tham nhũng”do Thanh tra Chính phủ phát động

Lượt xem:12 | lượt tải:3

3231/QQD-UBND

Quyết đinh công bố danh mục 27 TTHC được sửa đổi, bổ sung mức phí, lệ phí lĩnh vực bảo vệ thực vật, chăn nuôi, trồng trọt, thú y, thủy sản, lâm nghiệp thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Lượt xem:21 | lượt tải:5

217/KH- UBND

Kế hoạch duy trì, cải thiện và nâng cao chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) trên địa bàn thành phố Lào Cai năm 2021

Lượt xem:50 | lượt tải:29

2995/QĐ- UBND

Quyết định Ban hành Quy chế phối hợp liên ngành về giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Lượt xem:50 | lượt tải:21

2979/QĐ- UBND

Quyết định công bố danh mục 02 TTHC mới ban hành thuộc lĩnh vực phòng, chống thiên tai

Lượt xem:69 | lượt tải:17
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây