Bản tin pháp luật tuần 27 năm 2021

Thứ ba - 06/07/2021 11:12
Giới thiệu các văn bản pháp luật mới và các văn bản có hiệu lực trong tuần
Ảnh bản tin pháp luật
Ảnh bản tin pháp luật
I. VĂN BẢN PHÁP LUẬT MỚI
1. Quy định mới về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập
 Ngày 21/6/2021. Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 60/2021/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.
Ngày 14/2/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập (SNCL). Việc ban hành Nghị định đã mang lại một số kết quả tích cực, như: Tăng quyền tự chủ các đơn vị SNCL trong sử dụng tài sản, nguồn lực tài chính, nhân lực trong cung cấp dịch vụ công, tạo điều kiện sử dụng các thế mạnh về tài sản, nguồn lực tài chính, nhân lực để cung cấp dịch vụ công theo cơ chế thị trường.
Tuy vậy, bên cạnh những kết quả tích cực, thực tiễn thời gian qua cho thấy tồn tại một số hạn chế, do vậy, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 nhằm khắc phục những hạn chế này.
Sửa quy định về nguồn tài chính
Về nguồn tài chính, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định nguồn tài chính của đơn vị SNCL theo hướng tổng hợp chung tất cả các nguồn lực, chưa có sự tách bạch rõ nguồn thu từ hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị do Nhà nước giao và các hoạt động kinh doanh dịch vụ.
Để khắc phục hạn chế nêu trên, Nghị định số 60/2021/NĐ-CP bổ sung quy định cụ thể nguồn tài chính của đơn vị SNCL theo hướng tách rõ nguồn thu. Cụ thể, nguồn thu hoạt động sự nghiệp gồm:
- Thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công;
- Thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; hoạt động liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân theo đúng quy định của pháp luật và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đề án phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp công;
- Thu từ cho thuê tài sản công: Đơn vị thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đề án cho thuê tài sản công.
Tự chủ trong hoạt động liên doanh, liên kết
Nghị định số 16/2015/NĐ-CP chưa quy định cụ thể các hình thức liên doanh liên kết và việc phân phối kết quả chênh lệch thu chi từ hoạt động liên doanh liên kết của đơn vị SNCL.
Do đó, để đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất chung về việc phân phối kết quả từ hoạt động liên doanh liên kết của đơn vị SNCL, Nghị định 60/2021/NĐ-CP bổ sung quy định về tự chủ trong hoạt động liên doanh, liên kết.
Theo quy định tại Nghị định 60/2021/NĐ-CP, đơn vị SNCL được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân để hoạt động dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội. Việc sử dụng tài sản công vào mục đích liên doanh, liên kết phải bảo đảm các yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều 55 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.
Nghị định này không quy định việc sử dụng thương hiệu, giấy phép, bản quyền tác phẩm để liên doanh, liên kết theo hình thức thành lập pháp nhân mới. Trường hợp liên doanh, liên kết theo hình thức thành lập pháp nhân mới thì đơn vị SNCL thực hiện theo các quy định pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, pháp luật về đầu tư, pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật có liên quan khác.
Việc phân chia kết quả của hoạt động liên doanh, liên kết thực hiện theo thỏa thuận trong Hợp đồng liên doanh, liên kết, cụ thể như sau:
- Đối với hình thức liên doanh, liên kết không thành lập pháp nhân mới: Đơn vị SNCL thực hiện bổ sung toàn bộ kết quả của hoạt động liên doanh, liên kết vào nguồn tài chính của đơn vị có hoạt động liên doanh, liên kết theo đề án liên doanh, liên kết đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Đối với hình thức liên doanh, liên kết thành lập pháp nhân mới: số tiền thu được từ kết quả phân chia của hoạt động liên doanh, liên kết sau khi chi trả các chi phí lãi vay, chi phí thuê tài sản đem đi góp vốn (nếu có); phần thu nhập được chia còn lại của đơn vị SNCL được quản lý và sử dụng theo đề án liên doanh, liên kết được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Nghị định số 60/2021/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/8/2021.
2. Quy định mới về Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật
Nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) các cấp trước bối cảnh, yêu cầu của thực tiễn triển khai công tác PBGDPL hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 21/2021/QĐ-TTg quy định về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Phối hợp PBGDPL, thay thế Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg ngày 19/5/2013 và Quyết định số 42/2017/QĐ-TTg ngày 20/9/2017.
Theo đó, Hội đồng Phối hợp PBGDPL Trung ương do Thủ tướng Chính phủ thành lập gồm:
Phó Thủ tướng Chính phủ là Chủ tịch Hội đồng. Bộ trưởng Bộ Tư pháp là Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng. Các Phó Chủ tịch Hội đồng gồm: Thứ trưởng Bộ Tư pháp, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, đồng thời, mời Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam làm Phó Chủ tịch Hội đồng.
Các ủy viên Hội đồng là đại diện lãnh đạo các cơ quan, tổ chức sau: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Nội vụ, Thanh tra Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Ngoại giao, Ủy ban Dân tộc, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam.  
Mời đại diện lãnh đạo Ban Nội chính Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Dân vận Trung ương, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Trung ương Hội Luật gia Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) làm ủy viên Hội đồng.
Việc bổ sung thành viên Hội đồng là đại diện lãnh đạo một số ban của Đảng nhằm bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, đồng thời, bổ sung thành viên là đại diện lãnh đạo Thanh tra Chính phủ, Bộ Ngoại giao để triển khai công tác PBGDPL toàn diện, phù hợp với bối cảnh, yêu cầu tăng cường phòng, chống tham nhũng và chú trọng PBGDPL cho người Việt Nam ở nước ngoài.
Ở địa phương, thực hiện chủ trương phân cấp, phân quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Quyết định 21/2021/QĐ-TTg đã giao chủ tịch UBND cấp tỉnh, chủ tịch UBND cấp huyện căn cứ vào thành phần Hội đồng Phối hợp PBGDPL Trung ương và yêu cầu thực tiễn của địa phương quyết định thành phần, số lượng thành viên hội đồng phối hợp PBGDPL cấp tỉnh, cấp huyện, trong đó đại diện lãnh đạo UBND cấp tỉnh, đại diện lãnh đạo UBND cấp huyện làm chủ tịch hội đồng phối hợp PBGDPL cùng cấp.
Bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng
Quyết định số 21/2021/QĐ-TTg đã bổ sung và quy định rõ hơn một số nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng.
Theo quy định mới, Hội đồng Phối hợp PBGDPL Trung ương được bổ sung một số nhiệm như: Tư vấn giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xây dựng, thực hiện các giải pháp nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL; truyền thông chính sách pháp luật để tạo sự thống nhất, đồng thuận xã hội, huy động nhân dân tham gia xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật hiệu quả; triển khai công tác PBGDPL trong các lĩnh vực, địa bàn, đối tượng cần có sự phối hợp liên ngành để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước.
Hội đồng phối hợp PBGDPL cấp tỉnh, hội đồng phối hợp PBGDPL cấp huyện tư vấn cho UBND, chủ tịch UBND cùng cấp thực hiện các nhiệm vụ sau: Xây dựng, thực hiện các giải pháp nhằm tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng trên địa bàn trong công tác PBGDPL; đề xuất cấp ủy, chính quyền địa phương ban hành văn bản về cơ chế, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL;
Xây dựng chương trình, đề án, kế hoạch của UBND, chủ tịch UBND cùng cấp về PBGDPL và truyền thông chính sách pháp luật tại địa phương;
Triển khai công tác PBGDPL trong các lĩnh vực, địa bàn, đối tượng cần có sự phối hợp liên ngành để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh tại địa phương;
Hướng dẫn tổ chức hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại địa phương; thực hiện chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn;
Thực hiện các giải pháp nhằm đẩy mạnh chính sách xã hội hóa, huy động các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông về chính sách pháp luật…
Quyết định 21/2021/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 08/08/2021.
II. MỘT SỐ VĂN BẢN PHÁP LUẬT CÓ HIỆU LỰC TRONG TUẦN
A. TỔNG HỢP MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA 04 LUẬT CÓ HIỆU LỰC THI HÀNH TỪ NGÀY 01/7/2021.
Từ ngày 01/7/2021, 04 Luật sẽ chính thức có hiệu lực thi hành, THƯ VIỆN PHÁP LUẬT tổng hợp điểm mới các Luật này như sau:
1. Luật cư trú ngày 13/11/2020.
Luật Cu trú 2020 thay thế Luật Cư trú 2006 và Luật Cư trú sửa đổi, bổ sung  2013, với một số điểm mới như:
- Từ ngày 01/7/2021, không cấp mới Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú khi công dân thực hiện đăng ký thường trú, tạm trú.
Cơ quan đăng ký cư trú sẽ cập nhật thông tin về nơi thường trú, nơi tạm trú mới, thời hạn tạm trú của người đăng ký vào Cơ sở dữ liệu (CSDL) về cư trú.
- Thêm các hành vi bị nghiêm cấm về cư trú mà hiện hành chưa quy định:
+ Truy nhập, khai thác, hủy hoại, làm cản trở, gián đoạn hoạt động, thay đổi, xóa, phát tán, cung cấp trái phép thông tin trong CSDL về cư trú;
+ Không tiếp nhận, trì hoãn việc tiếp nhận hồ sơ, giấy tờ, tài liệu, thông tin đăng ký cư trú hoặc có hành vi nhũng nhiễu khác;
+ Không thực hiện, thực hiện không đúng thời hạn đăng ký cư trú cho công dân khi hồ sơ đủ điều kiện đăng ký cư trú; xóa đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú trái với quy định pháp luật.
- Việc tách hộ sau khi ly hôn sẽ không cần sự đồng ý bằng văn bản của vợ/chồng.
(Hiện hành, quy định muốn tách hộ khẩu phải được chủ hộ đồng ý cho tách sổ hộ khẩu bằng văn bản).
2. Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) sửa đổi ngày 16/11/2020
- Người nhiễm HIV có nghĩa vụ thông báo kịp thời kết quả xét nghiệm HIV dương tính của mình cho:
+ Vợ, chồng, người dự định kết hôn;
+ Người chung sống như vợ chồng với mình (đối tượng được bổ sung thêm).
- Thêm đối tượng được ưu tiên tiếp cận thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS, đơn cử như:
+ Người chuyển đổi giới tính;
+ Phạm nhân, người bị tạm giam, trại viên cơ sở giáo dục bắt buộc, học sinh trường giáo dưỡng, học viên cơ sở cai nghiện ma túy;
+ Người dân tộc thiểu số; người sống ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, khu vực biên giới, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó thăn;
+ Người từ đủ 13 tuổi đến dưới 30 tuổi.
3. Luật Thỏa thuận quốc tế ngày 13/11/2020
- Bên ký kết nước ngoài trong thỏa thuận quốc tế (TTQT) theo quy định của Luật này bao gồm cả đối tượng là cá nhân nước ngoài, (Hiện hành, Pháp lệnh ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế 2007 không có quy định).
- TTQT được ký kết với tên gọi là:
+ Thỏa thuận;
+ Thông cáo, tuyên bố, ý định thư; (là các tên gọi mới)
+ Bản ghi nhớ, biên bản thỏa thuận, biên bản trao đổi, chương trình hợp tác, kế hoạch hợp tác hoặc tên gọi khác, trừ tên gọi đặc thù của điều ước quốc tế bao gồm công ước, hiệp ước, định ước, hiệp định.
- UBND cấp xã ở khu vực biên giới chỉ ký kết TTQT với bên ký kết nước ngoài là chính quyền địa phương cấp tương đương về giao lưu, trao đổi thông tin, kết nghĩa, hợp tác thực hiện quản lý biên giới phù hợp với điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên.
4. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống thiên tai và Luật đê điều ngày 17/6/2020
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai, như:
+ Quỹ phòng, chống thiên tai là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách gồm: Quỹ phòng, chống thiên tai trung ương do Bộ NN&PTNT quản lý (quy định mới) và Quỹ phòng, chống thiên tai cấp tỉnh do UBND cấp tỉnh quản lý.
+ Nguồn nhân lực cho hoạt động phòng, chống thiên tai:
Bổ sung thêm đối tượng là người làm công tác phòng, chống thiên tai tại cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai.
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đê điều:
+ Bổ sung thêm khái niệm: Bờ sông là ranh giới giữa mái dốc của lòng sông với mặt đất tự nhiên của bãi sông.
+ Thay thế cụm từ “Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão” bằng cụm từ “Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn” tại một số điều, khoản.
B. NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI CÓ HIỆU LỰC THI HÀNH TỪ NGÀY 01/7/2021.
Nghị quyết về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc
Ngày 13/11/2020, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Nghị quyết số 130/2020/QH14 về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2021.
Nghị quyết gồm 06 chương 18 điều, quy định về nguyên tắc, hình thức, lĩnh vực, lực lượng, thẩm quyền, quy trình triển khai lực lượng, kinh phí bảo đảm, chế độ, chính sách và quản lý Nhà nước đối với việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.
Đối tượng áp dụng là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ và đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ, chuyên môn kỹ thuật, chiến sỹ và đơn vị thuộc Bộ Công an được cử tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.
Theo đó, nguyên tắc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc là đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam; quyết định của Hội đồng Quốc phòng và An ninh; sự thống lĩnh của Chủ tịch nước và quản lý Nhà nước của Chính phủ. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, pháp luật quốc tế, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Đồng thời, bảo đảm độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc, điều kiện và khả năng của Việt Nam; tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia. Chỉ tham gia hoạt động hỗ trợ khắc phục hậu quả chiến tranh, duy trì hòa bình sau xung đột, vì mục đích nhân đạo trên cơ sở đề nghị của Liên hợp quốc. Chỉ triển khai ở quốc gia, khu vực đã được Liên hợp quốc thành lập phái bộ và tại các cơ quan của Liên hợp quốc.
Ngoài ra, hình thức tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc gồm có hình thức cá nhân và hình thức đơn vị. Các lĩnh vực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc bao gồm: tham mưu; hậu cần; kỹ thuật; thông tin, liên lạc; công binh; quân y; cảnh sát; kiểm soát quân sự; quan sát viên quân sự; quan sát viên và giám sát bầu cử; các lĩnh vực khác do Hội đồng Quốc phòng và An ninh quyết định.
Nghị quyết quy định về xây dựng lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc như sau:
- Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các bộ, ngành có liên quan lập kế hoạch trung hạn và dài hạn về xây dựng lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định biên chế, tổ chức đơn vị và tiêu chuẩn lực lượng thuộc thẩm quyền quản lý để tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.
- Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện cho cá nhân, đơn vị tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc về chuyên môn, nghiệp vụ, chính trị, pháp luật, ngoại ngữ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, lĩnh vực, địa bàn và giới tính.
C. NGHỊ QUYẾT CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI CÓ HIỆU LỰC THI HÀNH TỪ NGÀY 01/7/2021.
Quy định mới về ưu đãi người có công với cách mạng
Ngày 09/12/2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 về ưu đãi người có công với cách mạng. Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2021.
Đối tượng hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng
Theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14, đối tượng hưởng chế độ ưu đãi gồm: Người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng.
Người có công với cách mạng bao gồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; thương binh, bao gồm cả thương binh loại B được công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1993; người hưởng chính sách như thương binh; bệnh binh; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày; người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế; người có công giúp đỡ cách mạng.
Chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng
Tùy từng đối tượng, người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng được hưởng chế độ ưu đãi chủ yếu quy định tại Điều 5 Pháp lệnh, gồm có: Trợ cấp hằng tháng, phụ cấp hằng tháng, trợ cấp một lần; các chế độ ưu đãi khác. Trong đó, các chế độ ưu đãi khác là:
- Bảo hiểm y tế.
- Điều dưỡng phục hồi sức khỏe.
- Cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cần thiết theo chỉ định của cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng thuộc ngành lao động - thương binh và xã hội hoặc của bệnh viện tuyến tỉnh trở lên.
- Ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm.
- Hỗ trợ để theo học đến trình độ đại học tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
- Hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào công lao, hoàn cảnh của từng người hoặc khi có khó khăn về nhà ở.
- Miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất ở, chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở, công nhận quyền sử dụng đất ở, khi được mua nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước.
- Ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước biển; ưu tiên giao khoán bảo vệ và phát triển rừng.
- Vay vốn ưu đãi để sản xuất, kinh doanh.
- Miễn hoặc giảm thuế theo quy định của pháp luật.
Điều kiện, tiêu chuẩn và các chế độ ưu đãi đối với từng nhóm đối tượng người có công với cách mạng được thực hiện theo quy định tại Chương II Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14.
Chế độ ưu đãi đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Bà mẹ Việt Nam anh hùng là người được tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” theo quy định tại Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.
Theo Điều 18 Pháp lệnh này, chế độ ưu đãi đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng bao gồm: Chế độ ưu đãi đối với thân nhân của liệt sĩ quy định tại các khoản 1, 2, 4, 6, 7, 8 và 9 Điều 16 của Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14; trợ cấp hằng tháng bằng 03 lần mức chuẩn; phụ cấp hằng tháng; trợ cấp người phục vụ đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng sống ở gia đình; điều dưỡng phục hồi sức khỏe hằng năm; Nhà nước và xã hội tặng nhà tình nghĩa hoặc hỗ trợ cải thiện nhà ở quy định tại điểm e khoản 2 Điều 5 của Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14.
Thân nhân của Bà mẹ Việt Nam anh hùng cũng được hưởng một số chế độ ưu đãi như sau: Trợ cấp một lần đối với thân nhân khi Bà mẹ Việt Nam anh hùng được tặng danh hiệu nhưng chết mà chưa được hưởng chế độ ưu đãi hoặc được truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”; trợ cấp một lần đối với thân nhân với mức bằng 03 tháng trợ cấp hằng tháng, phụ cấp hằng tháng hiện hưởng khi Bà mẹ Việt Nam anh hùng đang hưởng trợ cấp hằng tháng, phụ cấp hằng tháng chết; trợ cấp mai táng đối với người hoặc tổ chức thực hiện mai táng khi Bà mẹ Việt Nam anh hùng đang hưởng trợ cấp hằng tháng, phụ cấp hằng tháng chết; bảo hiểm y tế đối với người phục vụ Bà mẹ Việt Nam anh hùng sống ở gia đình.
Những hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực ưu đãi người có công với cách mạng
Pháp lệnh quy định các hành vi sau đây bị nghiêm cấm trong lĩnh vực ưu đãi người có công với cách mạng:
1- Khai báo gian dối, giả mạo giấy tờ để hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng.
2- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền lợi của người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng.
3- Vi phạm nguyên tắc quản lý, sử dụng kinh phí bảo đảm thực hiện các chính sách, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, Quỹ Đền ơn đáp nghĩa.
4- Lợi dụng việc thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng để vi phạm pháp luật.
D. NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ CÓ HIỆU LỰC THI HÀNH TỪ NGÀY 01/7/2021
Tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội lên 360.000 đồng/tháng từ ngày 01/7/2021
 Ngày 15/3/2021, Chính phủ ban hành Nghị định 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội; trong đó điều chỉnh mức chuẩn trợ giúp xã hội lên 360.000 đồng/tháng áp dụng từ ngày 01/7/2021.
Theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP, mức chuẩn trợ giúp xã hội là căn cứ xác định mức trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức trợ cấp nuôi dưỡng trong cơ sở trợ giúp xã hội và các mức trợ giúp xã hội khác.
Mức chuẩn trợ giúp xã hội áp dụng từ ngày 01/7/2021 là 360.000 đồng/tháng. Trước đó, theo Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 mức chuẩn trợ giúp là 270.000 đồng/tháng.
Nghị định số 20/2021/NĐ-CP nêu rõ, tùy theo khả năng cân đối của ngân sách, tốc độ tăng giá tiêu dùng và tình hình đời sống của đối tượng bảo trợ xã hội, cơ quan có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội cho phù hợp; bảo đảm tương quan chính sách đối với các đối tượng khác.
Tùy thuộc điều kiện kinh tế - xã hội tại địa phương, UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định: Mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội áp dụng trên địa bàn bảo đảm không thấp hơn mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp xã hội quy định tại Nghị định này; đối tượng khó khăn khác chưa quy định tại Nghị định này được hưởng chính sách trợ giúp xã hội.
Bên cạnh việc quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội mới, Nghị định 20/2021/NĐ-CP cũng quy định về chính sách: Trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng; trợ giúp xã hội khẩn cấp; chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội tại cơ sở trợ giúp xã hội, nhà ở xã hội.
Trong đó, Nghị định nêu rõ 6 hình thức hỗ trợ khẩn cấp, gồm: Hỗ trợ lương thực và nhu yếu phẩm thiết yếu từ nguồn ngân sách nhà nước; hỗ trợ chi phí điều trị người bị thương nặng; hỗ trợ chi phí mai táng; hỗ trợ làm nhà ở, sửa chữa nhà ở; hỗ trợ khẩn cấp đối với trẻ em khi cha, mẹ bị chết, mất tích do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh hoặc các lý do bất khả kháng khác; hỗ trợ tạo việc làm, phát triển sản xuất.
Nghị định 20/2021/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2021.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
VĂN BẢN CHỈ ĐẠO ĐIỀU HÀNH

Số: 3229/UBND-KT

Hướng dẫn triển khai phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Lượt xem:16 | lượt tải:4

Số: 310/TB-UBND

Thông báo công khai kế hoạch sử dụng đất năm 2021

Lượt xem:16 | lượt tải:10

Số: 699/UBND-VP

Tiếp tục tăng cường quản lý tốt các trường hợp từ vùng dịch trở về thành phố Lào Cai

Lượt xem:24 | lượt tải:8

Số: 183/KH-UBND

Tăng cường triển khai ứng dụng công nghệ số trong công tác phòng, chống dịch Covid-19

Lượt xem:22 | lượt tải:7

Số: 182/KH-UBND

Tổ chức các hoạt động nhân dịp kỷ niệm 74 năm ngày Thương binh liệt sỹ (27/7/1947 - 27/7/2021)

Lượt xem:20 | lượt tải:7

Số: 690/UBND-VH

Chỉ đạo chuẩn bị điều kiện tổ chức các hoạt động Chào mừng Kỷ niệm 30 năm tái lập tỉnh Lào Cai

Lượt xem:21 | lượt tải:7

Số: 3056/UBND-TH

Triển khai thực hiện mức thu phí, lệ phí theo quy định tại Thông tư số 47/2021/TT-BTC của Bộ Tài chính

Lượt xem:23 | lượt tải:8

Số: 37/2021/QĐ-UBND

Quyết định bãi bỏ Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 19/3/2018 của UBND tỉnh Lào Cai ban hành Quy định một số nội dung về quy hoạch xây dựng trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Lượt xem:20 | lượt tải:8
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây