Bộ tài liệu trả lời kiến nghị đối với công tác chỉ đạo, điều hành và hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Tư pháp năm 2021

Thứ năm - 23/12/2021 01:40
Trên cơ sở Báo cáo tổng kết công tác tư pháp năm 2021 của các Bộ, ngành, địa phương, Bộ Tư pháp đã tổng hợp được 131 kiến nghị về công tác chỉ đạo, điều hành và hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ có nội dung tương tự nhau nên Bộ Tư pháp đã tổng hợp theo nhóm vấn đề. Cụ thể như sau:
BỘ TÀI LIỆU TRẢ LỜI KIẾN NGHỊ CỦA CÁC BỘ, NGÀNH, UBND CÁC TỈNH, TP TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH VÀ HƯỚNG DẪN CHUYÊN MÔN, NGHIỆP VỤ CỦA BỘ TƯ PHÁP NĂM 2021
Trên cơ sở Báo cáo tổng kết công tác tư pháp năm 2021 của các Bộ, ngành, địa phương, Bộ Tư pháp đã tổng hợp được 131 kiến nghị về công tác chỉ đạo, điều hành và hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ có nội dung tương tự nhau nên Bộ Tư pháp đã tổng hợp theo nhóm vấn đề. Cụ thể như sau:
I. VỤ CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÂY DỰNG PHÁP LUẬT:
1. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu Chính phủ sửa đổi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP cho phù hợp với thực tiễn thi hành pháp luật, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cụ thể: cần cân nhắc quy định rõ việc thành lập phòng pháp chế hoặc bố trí cán bộ chuyên trách về công tác pháp chế trong các cơ quan chuyên môn; tiêu chuẩn của người làm công tác pháp chế; chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với các bộ phụ trách công tác pháp chế (UBND các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Đà Nẵng, Bình Định, Bình Phước, Bến Tre, Hải Dương, Khánh Hòa, Kon Tum, Nghệ An, Quảng Trị, Thái Nguyên, Vĩnh Long, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường).
Trả lời:
Việc thành lập Phòng Pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh là yêu cầu được quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ. Thời gian qua, Bộ Tư pháp đã kiến nghị với Chính phủ tại các văn bản ở nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, thực hiện chủ trương tinh giản biên chế, tinh gọn bộ máy theo yêu cầu của Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh gọn biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (Nghị quyết số 39-NQ/TW); Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả (Nghị quyết số 18-NQ/TW) thì việc củng cố, kiện toàn và nhất là thành lập các Phòng Pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh là rất khó khăn.
Để đánh giá một các toàn diện, đề xuất những nội dung sửa đổi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch tổng kết 10 năm thực hiện Nghị định này (ban hành kèm theo Quyết định số 497/QĐ-BTP ngày 29/3/2021). Trên cơ sở báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, Bộ Tư pháp sẽ tổng hợp, nghiên cứu và đề xuất với Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, trong đó có các quy định về tổ chức, biên chế, vị trí việc làm, tiêu chuẩn, chế độ hỗ trợ đối với cán bộ làm công tác pháp chế.
2. Đề nghị Bộ Tư pháp thường xuyên tổ chức tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu về pháp chế và không nên giới hạn về số lượng tham gia. Đồng thời, biên soạn và cung cấp tài liệu kịp thời để các Bộ, ngành, địa phương có cơ sở hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác pháp chế (UBND các tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Bình Định, Bến Tre, Cà Mau, Khánh Hòa, Kon Tum, Nghệ An, Sơn La, Phú Thọ, Quảng Trị, Vĩnh Long, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường).
Trả lời:
Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác pháp chế, hằng năm, Bộ Tư pháp đều tổ chức các hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác pháp chế tại hai miền Bắc, Nam. Ngoài ra, Bộ Tư pháp còn tổ chức nhiều hội nghị tập huấn chuyên sâu về các nghiệp vụ công tác pháp chế như xây dựng VBQPPL, đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng VBQPPL, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật cho các Bộ, ngành, địa phương…
Trong các hội nghị tập huấn nêu trên, đối tượng tập huấn cũng được mở rộng hơn, không chỉ chú trọng vào các tổ chức pháp chế, người làm công tác xây dựng pháp luật, mà còn có cả các đối tượng công chức, viên chức khác của các bộ, ngành, địa phương. Các hội nghị, các lớp tập huấn nghiệp vụ pháp chế cũng không còn đơn thuần qua các bài giảng một chiều, mà có sự tương tác, trao đổi giữa giảng viên và học viên về những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện các quy định của pháp luật trên thực tế, nhằm nâng cao năng lực, trình độ cho cán bộ làm công tác pháp chế, xây dựng pháp luật. Cùng với việc tổ chức các hội nghị, lớp tập huấn nghiệp vụ, đối với những đề nghị hỗ trợ giải đáp vướng mắc, khó khăn về hoạt động nghiệp vụ của các địa phương, Bộ Tư pháp đều tích cực nghiên cứu, giải đáp và có các hướng dẫn kịp thời.
Trong năm 2021, do diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 nên Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác pháp chế chưa thực hiện được. Trong năm 2022, với chủ trương thích ứng an toàn với dịch Covid-19, Bộ sẽ nghiên cứu hình thức tổ chức Hội nghị tập huấn linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế để bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho người làm công tác pháp chế tại các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Ngoài ra, các tài liệu tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về các nghiệp vụ công tác pháp chế đều được Bộ biên soạn và kịp thời phổ biến rộng rãi thông qua việc in các ấn phẩm, đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ để người làm công tác pháp chế, xây dựng pháp luật dễ dàng tiếp cận và sử dụng. Bên cạnh đó, việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ pháp chế thuộc trách nhiệm của địa phương. Bộ Tư pháp sẵn sàng hỗ trợ về chương trình, tài liệu tham khảo phục vụ việc đào tạo, bồi dưỡng.
3. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về xây dựng văn bản, pháp chế (UBND tỉnh Bình Định).
Trả lời:
Trong thời gian qua, để hoàn thiện hệ thống VBQPPL về xây dựng VBQPPL, pháp chế, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối với các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện nhiều hoạt động, trong đó đã tham mưu, giúp Chính phủ chủ trì soạn thảo dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL và dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL trình Quốc hội thông qua, Chính phủ ban hành.
- Đối với công tác xây dựng pháp luật, Luật năm 2020 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định của Luật năm 2015 để giúp nâng cao chất lượng và đẩy nhanh tiến độ xây dựng, ban hành VBQPP. Trong đó có những sửa đổi, bổ sung quan trọng như quy định cụ thể, đầy đủ hơn về cơ chế bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong quy trình xây dựng pháp luật; quy định về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; nâng cao trách nhiệm của của các cơ quan Quốc hội trong thẩm tra dự án luật, pháp lệnh; tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan trình dự án luật, pháp lệnh với cơ quan chủ trì thẩm tra dự án và huy động tốt hơn sự tham gia của các đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý dự án luật, pháp lệnh; giảm bớt một số loại văn bản phải lập đề nghị xây dựng theo quy trình chính sách; bổ sung một số trường hợp được xây dựng, ban hành VBQPPL theo trình tự, thủ tục rút gọn…
Để triển khai đạo Luật này, Bộ Tư pháp đang triển khai tập huấn hướng dẫn. Theo đó, đã có 02 Hội nghị tập trung, trực tuyến tập huấn; đồng thời đang tích cực khẩn trương xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn việc đánh giá tác động thủ tục hành chính (TTHC) trong lập đề nghị xây dựng VBQPPL và soạn thảo dự án, dự thảo VBQPPL, thay thế Thông tư số 07/2014/TT-BTP ngày 24/02/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính và rà soát, đánh giá thủ tục hành chính để bảo đảm phù hợp với các quy định mới của Luật năm 2020 và Nghị định số 154/2016/NĐ-CP.
- Đối với công tác pháp chế, hiện nay, Bộ Tư pháp đang chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tiến hành nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế, trong đó sẽ sửa đổi, bổ sung những điểm bất cập, hạn chế của Nghị định này, bảo đảm tính thống nhất, khả thi khi áp dụng, thực hiện trong thực tế. Ngày 29/3/2021, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch tổng kết 10 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP (ban hành kèm theo Quyết định số 497/QĐ-BTP), trong đó yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp nhà nước tiến hành tổng kết tình hình 10 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP và xây dựng báo cáo kết quả thực hiện Nghị định, gửi Bộ Tư pháp tổng hợp. Trên cơ sở báo cáo của các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tư pháp sẽ tổng hợp, nghiên cứu và đề xuất với Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác pháp chế.
4. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với các Bộ, ngành liên quan kịp thời sửa đổi, bổ sung những điểm bất cập, hạn chế để đảm bảo tính thống nhất, khả thi khi áp dụng thực hiện (UBND tỉnh Bình Định).
Trả lời:
Bảo đảm tính kịp thời, tính thống nhất, tính khả thi là một trong những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng, ban hành VBQPPL đã được quy định tại Điều 5 của Luật Ban hành VBQPPL năm 2015. Nhiệm vụ rà soát VBQPPL để kịp thời sửa đổi, bổ sung những điểm bất cập, hạn chế để đảm bảo tính thống nhất, khả thi khi áp dụng thực hiện đã và đang được Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành, địa phương quán triệt và thực hiện một cách thường xuyên.
Gần đây nhất, ngày 11/9/2020, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 129/NQ-CP về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8 năm 2020 và ngày 09/02/2021, Văn phòng Chính phủ có Công văn số 1016/VPCP-PL truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất sửa đổi, bổ sung các VBQPPL theo các phương án đã được nêu tại Báo cáo số 442/BC-CP ngày 01/10/2020 của Chính phủ về kết quả rà soát VBQPPL thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước. Thực hiện Nghị quyết số 129/NQ-CP và ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan xây dựng, trình dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục văn bản quy phạm pháp luật cần xử lý theo Báo cáo số 442/BC-CP (Tờ trình số 05/TTr-BTP ngày 25/3/2021 của Bộ Tư pháp).
Ngày 16/4/2021, tại Nghị quyết số 45/NQ-CP, Chính phủ giao: “Trên cơ sở kết quả ban đầu đã rà soát và thống nhất giữa các Bộ, ngành, Bộ Tư pháp có trách nhiệm đôn đốc việc gửi báo cáo trước ngày 15 tháng 5 năm 2021 để tổng hợp, hoàn thiện dự thảo Quyết định và Danh mục các VBQPPL cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới với tiến độ và nội dung cụ thể, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành vào cuối tháng 5 năm 2021 và làm cơ sở để đề nghị bổ sung vào chương trình xây dựng pháp luật năm 2021, 2022 và các năm tiếp theo”.
Trên cơ sở báo cáo của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan có liên quan, Bộ Tư pháp đã hoàn thiện dự thảo Quyết định và Danh mục VBQPPL cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới. Đây là các văn bản quy phạm pháp luật có quy định mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập, không phù hợp thực tiễn được tổng hợp từ kết quả rà soát của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Tổ công tác trong năm 2020, tập trung vào các lĩnh vực có tác động trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh.
Ngày 07/6/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 889/QĐ-TTg ban hành danh mục văn bản quy phạm pháp luật cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới. Tại Danh mục ban hành kèm theo Quyết định đã xác định tên văn bản cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, cơ quan chủ trì, nội dung cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới và tiến độ thực hiện. Các văn bản và nội dung cụ thể cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới được đưa vào Danh mục dựa trên cơ sở thống nhất giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ theo kết quả rà soát tại Báo cáo số 442/BC-CP; tiến độ thực hiện theo đề xuất của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, có rà soát, đối chiếu với Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
5. Đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu ban hành văn bản quy định về chi cho các hoạt động xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản để thay thế hoặc sửa đổi Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP ngày 17/8/2011 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp và Thông tư số 338/2016/TT-BTC ngày 28/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng VBQPPL và hoàn thiện hệ thống pháp luật vì hiện nay các quy định trong 02 văn bản này về kinh phí cho công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản còn thấp, nhiều bất cập, không phù hợp thực tiễn; nghiên cứu hỗ trợ kinh phí cho địa phương thực hiện cập nhật VBQPPL vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật; xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL. (UBND các tỉnh: Bắc Giang, Hải Dương, Khánh Hòa, Kon Tum, Quảng Trị, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban Dân tộc, Bộ Tài nguyên và Môi trường).
Trả lời:
- Về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư số 338/2016/TT-BTC
Ngày 01/6/2021, Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 140/TB-VPCP thông báo Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại buổi làm việc với Bộ Tư pháp về tình hình thực hiện nhiệm vụ, những vấn đề cần quan tâm giải quyết, tại Mục 10 của Thông báo giao: “Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Tư pháp nghiên cứu, sớm sửa đổi các quy định về kinh phí thỏa đáng cho công tác xây dựng pháp luật, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của công tác này, quan điểm đầu tư cho thể chế là đầu tư phát triển vì vậy phải quan tâm phù hợp với thực tiễn hiện nay tránh tư tưởng hẹp hòi, cố hữu”. Hiện nay, Bộ Tài chính đang chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, tổng kết, đánh giá việc thực hiện Thông tư số 338/2016/TT-BTC ngày 28/12/2016 của Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng VBQPPL và hoàn thiện hệ thống pháp luật (Thông tư số 338/2016/TT-BTC) để sửa đổi, bổ sung Thông tư này theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là đầu tư cho thể chế là đầu tư phát triển.
Trên cơ sở đề nghị của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp đã có Công văn gửi các Bộ, cơ quan ngang Bộ, HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị đánh giá tình hình thực hiện Thông tư số 338/2016/TT-BTC. Bộ Tư pháp tổng hợp các báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và của Bộ, cơ quan ngang Bộ đánh giá về tình hình thực hiện Thông tư nêu trên. Ngày 3/11/2021, Bộ Tư pháp có Công văn số 4045/BTP-VĐCXDPL gửi Bộ Tài chính Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện Thông tư số 338/2016/TT-BTC và đề xuất các nội dung sửa đổi, bổ sung Thông tư số 338/2016/TT-BTC.
Hiện nay, Bộ Tài chính đang tích cực chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp khẩn trương hoàn thiện các tài liệu trong hồ sơ dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 338/2016/TT-BTC để sớm trình Bộ trưởng Bộ Tài chính ký ban hành trong thời gian sớm.
- Về việc sửa đổi Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP
Trong quá trình tổng kết, đánh giá việc thực hiện Thông tư số 338/2016/TT-BTC, các Bộ, ngành, địa phương cũng đánh giá và đề xuất sửa đổi Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP ngày 17/8/2011 của Bộ Tài chính quy định về chi cho các hoạt động xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản, các Bộ, ngành, địa phương cũng đánh giá Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP. Theo đánh giá của Bộ, ngành, địa phương, Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP không còn phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, Bộ Tư pháp đang nghiên cứu, tổng kết, đánh giá về việc thực hiện Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP để từ đó đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của Thông tư nêu trên phù hợp với tình hình thực tiễn.
6. Đề nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu điều chỉnh quy trình xây dựng VBQPPL của địa phương, cụ thể là rút ngắn thời gian, nội dung, quy trình chính sách đối với dự thảo nghị quyết quy định tại khoản 4 Điều 27 Luật Ban hành VBQPPL (UBND tỉnh Bến Tre).
Trả lời:
Ngày 18/6/2020, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL số 63/2020/QH14 (Luật năm 2020). Sau khi Luật năm 2020 được thông qua, ngày 31/12/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (Nghị định số 154/2020/NĐ-CP). Luật năm 2020 và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP đã cùng có hiệu lực từ ngày 01/01/2021.
Luật năm 2020 và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP đã xử lý được phần lớn khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thi hành Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (Luật năm 2015) và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL (Nghị định số 34/2016/NĐ-CP). Đối với chính quyền địa phương, Luật năm 2020 đã bỏ yêu cầu về lập đề nghị theo quy trình chính sách đối với nghị quyết của HĐND cấp tỉnh quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Luật năm 2015; cho phép quy định TTHC trong nghị quyết quy định tại khoản 4 Điều 27; cho phép sửa đổi, bổ sung TTHC đã quy định trước ngày 01/7/2016; tăng thời hạn gửi hồ sơ thẩm định và thời gian thẩm định của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp
Như vậy, từ ngày 01/01/2021 khi Luật năm 2020 có hiệu lực thì chỉ còn nghị quyết quy định tại khoản 4 Điều 27 của Luật năm 2015 phải lập đề nghị theo quy trình chính sách, tức là phải xây dựng nội dung chính sách, đánh giá tác động của chính sách, xây dựng báo cáo đánh giá tác động của chính sách, thông qua chính sách trước khi chuyển qua giai đoạn soạn thảo nghị quyết. Đây là quy trình bắt buộc theo quy định của Luật năm 2015 hiện hành mà tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân đều phải tôn trọng và tuân thủ. Do vậy, đề nghị các địa phương thực hiện đầy đủ và nghiêm túc quy định của Luật về quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL nói chung và nghị quyết của HĐND cấp tỉnh quy định tại khoản 4 Điều 27 của Luật nói riêng.
Đối với kiến nghị của UBND tỉnh Bến Tre về nghiên cứu để rút ngắn thời gian, nội dung, quy trình chính sách đối với dự thảo nghị quyết quy định tại khoản 4 Điều 27 Luật Ban hành VBQPPL, Bộ Tư pháp xin nghi nhận để tiếp tục nghiên cứu, phục vụ nhiệm vụ tiếp tục hoàn thiện thể chế về ban hành VBQPPL ở nước ta.
7. Theo quy định tại khoản 4 Điều 27 của Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 thì Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được ban hành nghị quyết để quy định: “Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương”. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng cũng như qua rà soát các quy định của Trung ương thì chưa có hướng dẫn cụ thể cách xác định hay quy định thế nào là biện pháp có tính chất đặc thù, nên cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất (UBND tỉnh Đồng Tháp).
Trả lời:
Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP) không giải thích thế nào là “biện pháp có tính chất đặc thù”, đúng như ý kiến mà UBND tỉnh Đồng Tháp đã nêu.
Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy “biện pháp có tính chất đặc thù” quy định tại khoản 4 Điều 27 của Luật năm 2015 là biện pháp để giải quyết những vấn đề riêng biệt của địa phương phát sinh từ thực tiễn, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế hoặc nhằm hạn chế, khắc phục những điểm bất lợi của địa phương đó. Tính chất đặc thù của biện pháp phụ thuộc vào vị trí địa - chính trị hoặc trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương. Ví dụ: vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa phương có di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (nhã nhạc cung đình, dân ca quan họ, hát ca trù, hát xoan, lễ hội Yên Thế, nghề chạm khắc bạc của người Mông…), những giống loài động, thực vật đặc hữu của Việt Nam (Voọc chà vá, Chuột chù Kẻ Gỗ, Vịt Sín Chéng, xoài Đồng Nai, …) cần biện pháp đặc thù để bảo tồn, phát triển…
Để xác định biện pháp có tính chất đặc thù, cần căn cứ vào các VBQPPL hiện hành của cơ quan nhà nước ở Trung ương để xác định biện pháp đó đã được quy định để áp dụng chung cho cả nước hay chưa; nếu biện pháp đó chưa được quy định trong VBQPPL hiện hành của cơ quan nhà nước ở Trung ương và xuất phát từ thực tiễn địa phương cần thiết phải chủ động ban hành để giải quyết các vấn đề riêng biệt của địa phương thì được coi là biện pháp có tính chất đặc thù. Việc quy định các biện pháp có tính chất đặc thù ở địa phương phải bảo đảm phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; bảo đảm các nguyên tắc xây dựng, ban hành VBQPPL như tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật”.
8. Hiện nay, các nội dung về báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành VBQPPL và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP chỉ mang tính nguyên tắc, quy dịnh chung chung nên rất khó thực hiện như: phương pháp đánh giá tác động chính sách trong dự thảo VBQPPL; tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; so sánh các chi phí về lợi ích… Điều 6 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi điểm a, điểm b khoản 3 Điều 1 của Nghị định số 154/2020/NĐ-CP đưa ra 5 yêu cầu ĐGTĐCS, bao gồm tác động về: kinh tế, xã hội, giới (nếu có), tác động của TTHC (nếu có) và tác động đối với hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, việc đánh giá tác động của các chính sách này dựa trên những tiêu chí cụ thể nào, những nội nào mang tính chất bắt buộc, những nội dung nào có thể không cần thiết quy định chưa thực sự rõ ràng. Bên cạnh đó, Điều 7 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP cũng chỉ xác định “Tác động của chính sách được đánh giá theo phương pháp định lượng, phương pháp định tính. Trong trường hợp không thể áp dụng phương pháp định lượng thì trong báo cáo đánh giá tác động của chính sách phải nêu rõ lý do”. Quy định này không cho biết rõ, trường hợp nào phải tiến hành đánh giá bằng phương pháp định lượng, trường hợp nào đánh giá bằng phương pháp định tính. Vấn đề này đến nay vẫn chưa được hướng dẫn cụ thể (UBND tỉnh Đồng Tháp).
Trả lời:
Sau khi Luật ban hành VBQPPL năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành VBQPPL (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020) được ban hành, Bộ Tư pháp đã triển khai tổ chức nhiều lớp tập huấn, tọa đàm, bồi dưỡng các nội dung về công tác lập đề nghị xây dựng VBQPPL; hướng dẫn chuyên sâu về kỹ năng xây dựng, phân tích chính sách và đánh giá tác động của chính sách cho cán bộ pháp chế và cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật của các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương và địa phương.
Riêng đối với các nội dung liên quan đến quy trình xây dựng, phân tích, đánh giá tác động và thông qua chính sách, từ thời điểm Luật ban hành VBQPPL năm 2015 có hiệu lực thi hành đến hết năm 2020, Bộ Tư pháp đã tổ chức 11 lớp tập huấn, tọa đàm về các nội dung có liên quan đến quy trình chính sách, hướng dẫn và trực tiếp giải đáp những thắc mắc của các bộ, ngành, địa phương về quy định của Luật và Nghị định, cũng như kỹ năng thực hiện việc đánh giá tác động của chính sách.
Trong năm 2018, Bộ Tư pháp phối hợp với các cơ quan, tổ chức xây dựng bộ sách “Tài liệu hướng dẫn về nghiệp vụ đánh giá tác động của chính sách” với mục tiêu hướng dẫn phương pháp thực hiện nội dung đánh giá tác động của chính sách theo các quy định tại Luật Ban hành VBQPPL 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL. Để tham khảo tài liệu nghiệp vụ hướng dẫn đánh giá tác động của chính sách đề nghị truy cập đường link https://xdpl.moj.gov.vn/qt/hdnv/Pages/chi-tiet-tai-lieu-nghiep-vu.aspx?ItemID=42. Trong năm 2021, Bộ Tư pháp cũng đã xây dựng, hoàn thiện tài liệu tập huấn về Luật ban hành VBQPPL, trong đó có các nội dung liên quan đến công tác lập đề nghị xây dựng VBQPPL; hướng dẫn kỹ năng xây dựng, phân tích chính sách và đánh giá tác động của chính sách; đồng thời cũng đã tổ chức 01 Hội nghị tập huấn: cho các Bộ, cơ quan Trung ương và trực tuyến tại 63 điểm cầu địa phương.
Trong các hội nghị, lớp tập huấn và tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ nêu trên đã có hướng dẫn về áp dụng quy định của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP liên quan đến cách xác định những trường hợp nào phải đánh giá cả 5 loại tác động quy định tại Điều 6 của Nghị định; những trường hợp nào chỉ cần đánh giá một số trong 5 loại tác động đó, cũng như khi nào cần sử dụng cả phương pháp định lượng và định tính, khi nào thì chỉ cần sử dụng một trong hai phương pháp này.
9. Kinh phí cho hoạt động đánh giá TTHC còn rất hạn hẹp. Thông tư số 167/2012/TT-BTC ngày 10/10/2012 của Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện các hoạt động kiểm soát TTHC không có kinh phí cho hoạt động đánh giá tác động TTHC; Thông tư số 338/2016/TT-BTC ngày 28/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng VBQPPL và hoàn thiện hệ thống pháp luật không quy định chi cho báo cáo đánh giá tác động TTHC; chưa quy định mức chi cụ thể đối với việc soạn thảo VBQPPL bãi bỏ VBQPPL mà không thay thế, điều chỉnh, bổ sung; Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tham mưu, đề xuất Chính phủ sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan có nội dung chưa rõ ràng, phù hợp (UBND tỉnh Đồng Tháp).
Trả lời:
Thực hiện nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao, trên cơ sở đề nghị của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương đánh giá việc thực hiện quy định tại Thông tư số 338/2016/TT-BTC ngày 28/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng VBQPPL. Theo đó, ngày 03/11/2021, Bộ Tư pháp có Công văn số 4045/BTP-VĐCXDPL gửi Bộ Tài chính Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện Thông tư số 338/2016/TT-BTC và đề xuất các nội dung sửa đổi, bổ sung Thông tư số 338/2016/TT-BTC.
Báo cáo đánh giá việc thực hiện Thông tư số 338/2016/TT-BTC cũng nêu rõ: Luật Ban hành VBQPPL yêu cầu xây dựng nhiều loại tài liệu, báo cáo trong hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL và hồ sơ dự án, dự thảo VBQPPL nhưng Thông tư số 338/2016/TT-BTC chưa quy định về nội dung chi đối với hoạt động này như xây dựng tờ trình, báo cáo lồng ghép vấn đề bình đẳng giới (nếu có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới; bản đánh giá TTHC (nếu có quy định TTHC); báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định; bản giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý … Do vậy, trong quá trình xây dựng VBQPPL, các cơ quan, đơn vị còn lúng túng trong việc xác định mức chi và việc thanh quyết toán đối với các tài liệu, báo cáo nêu trên.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện Thông tư số 338/2016/TT-BTC, Bộ Tư pháp cũng đã đề nghị: bổ sung một số nội dung chi trong hoạt động xây dựng VBQPPL và hoàn thiện hệ thống pháp luật chưa được liệt kê tại Điều 3 Thông tư số 338/2016/TT-BTC như xây dựng tờ trình; báo cáo tổng kết; báo cáo đánh giá thực trạng quan hệ xã hội; báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới; báo cáo về rà soát các VBQPPL có liên quan đến dự án, dự thảo văn bản; bản đánh giá TTHC trong dự án, dự thảo văn bản; bản giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định; báo cáo theo dõi tình hình thi hành pháp luật; báo cáo kinh nghiệm nước ngoài liên quan đến đề nghị xây dựng VBQPPL, dự án, dự thảo VBQPPL… Bộ Tư pháp trực tiếp phối hợp với Bộ Tài chính để sớm sửa đổi, bổ sung các văn bản liên quan đến vấn đề này.
Riêng về định mức chi cụ thể đối với việc soạn thảo VBQPPL bãi bỏ VBQPPL mà không thay thế, điều chỉnh, bổ sung, Thông tư số 338/2016/TT-BTC đã quy định về mức chi đối với VBQPPL ban hành mới và văn bản sửa đổi, bổ sung văn bản khác. Do đó, văn bản bãi bỏ VBQPPL và văn bản thay thế VBQPPL được coi là văn bản ban hành mới.
10. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu Chính phủ chỉ đạo, Bộ, ngành rà soát lại các VBQPPL có quy định TTHC yêu cầu phải nộp bản sao có chứng thực phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 20/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ (UBND tỉnh Cà Mau).
Trả lời:
Ngày 20/6/2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chị thị số 17/CT-TTg về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện TTHC. Mục đích của Chỉ thị này là đưa ra các giải pháp khắc phục tình trạng sử dụng bản sao có chứng thực một cách không cần thiết đến mức lạm dụng. 
Trên cơ sở Chị thị số 17/CT-TTg ngày 20/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ và thực hiện Quyết định số 08/QĐ-TTg ngày 06/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch đơn giản hóa TTHC trọng tâm năm 2015, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ, ngành trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 199/QĐ-TTg ngày 09/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Phương án đơn giản hóa đối với nhóm TTHC, quy định liên quan đến lý lịch tư pháp và yêu cầu nộp bản sao giấy tờ có công chứng, chứng thực.
Các Bộ, ngành đã và đang xây dựng các VBQPPL để thực thi phương án mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt. Về phần mình, Bộ Tư pháp luôn thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL, gắn kết công tác thẩm định với công tác kiểm soát TTHC, bảo đảm các dự án, dự thào VBQPPL có quy định TTHC phù hợp với quy định tại Điều 6 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP, tránh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực trái với tinh thần của Chị thị số 17/CT-TTg.
Đối với kiến nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau, Bộ Tư pháp xin ghi nhận và sẽ tiếp tục nghiên cứu để tham mưu Thủ tướng Chính phủ trong thời gian tới.
11. Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ; hướng dẫn, giải thích đối với những nội dung còn đang có những cách hiểu chưa thống nhất, vướng mắc như: phạm vi thẩm quyền ban hành VBQPPL của HĐND, UBND Thành phố theo Điều 27, 28 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa dổi, bổ sung năm 2020), việc giải quyết vướng mắc đối với trường hợp cần ban hành TTHC để thực hiện nhưng không được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội (UBND TP. Hà Nội).
Trả lời:
Trong thời gian qua, từ khi Quốc hội thông qua Luật Ban hành VBQPPL (Luật năm 2015), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL (Luật năm 2020) và Chính phủ ban hành Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành VBQPPL, Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, Bộ Tư pháp đã tích cực nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện các tài liệu tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về công tác xây dựng, ban hành VBQPPL theo quy định của Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.
Trên cơ sở các tài liệu nêu trên, Bộ Tư pháp đã tổ chức nhiều hội nghị, các lớp tập huấn, các buổi tọa đàm về các chủ đề liên quan đến công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật như lập đề nghị xây dựng VBQPPL, quy trình, kỹ năng xây dựng chính sách, nghiệp vụ đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng VBQPPL, soạn thảo, thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL; kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL. Đồng thời, trong quá trình triển khai Luật Ban hành VBQPPL vừa qua, đối với địa phương có đề nghị tập huấn, Bộ Tư pháp đều cử báo cáo viên về tập huấn tại địa phương.
Mới đây nhất, Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị tập huấn chuyên sâu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL, trong đó 01 Hội nghị dành cho các cơ quan, tổ chức ở địa phương (ngày 30/11-01/12/2021) và 01 Hội nghị dành cho các cơ quan, tổ chức ở Trung ương (ngày 07-08/12/2021). Trong hai Hội nghị này, các báo cáo viên của Bộ Tư pháp đã tập huấn 07 chuyên đề sau: (1) Những điểm mới cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP; (2) Lập đề nghị xây dựng VBQPPL; (3) Đánh giá tác động của chính sách; (4) Quy trình soạn thảo VBQPPL; (5) Kỹ năng soạn thảo VBQPPL; (6) Nghiệp vụ kiểm tra, xử lý VBQPPL; (7) Nghiệp vụ rà soát, hệ thống hóa VBQPPL. Tài liệu tập huấn của hai Hội nghị này (mỗi Tài liệu dài gần 300 trang) đã được gửi cho các bộ, ngành, địa phương để nghiên cứu, sử dụng.
Nội dung các hội nghị, lớp tập huấn đó đã chú trọng đến những khó khăn, vướng mắc trên thực tế của các Bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Các báo cáo viên của Bộ Tư pháp luôn quan tâm giải đáp những vấn đề vướng mắc đã được nêu tại các hội nghị tập huấn, lớp tập huấn, trong đó có việc xác định và phân biệt các nghị quyết của HĐND cấp tỉnh quy định tại Điều 27 và quyết định của UBND cấp tỉnh quy định tại Điều 28 của Luật năm 2015; việc quy định TTHC trong VBQPPL của chính quyền địa phương theo quy định tại khoản 4 Điều 14 và khoản 4 Điều 172 của Luật năm 2015.
Cùng với việc tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ, đối với những đề nghị hỗ trợ giải đáp vướng mắc, khó khăn về hoạt động nghiệp vụ của các địa phương, Bộ Tư pháp đều tích cực nghiên cứu, giải đáp và có các hướng dẫn kịp thời.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành pháp luật về ban hành VBQPPL, Bộ Tư pháp đã xuất bản các sách hướng dẫn nghiệp vụ về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách, soạn thảo VBQPPL, kiểm tra xử lý văn bản; rà soát, hệ thống hóa VBQPPL. Các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ, công văn trả lời Bộ, ngành, địa phương đều được đăng tải công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp để các Bộ, ngành, địa phương và công dân tiện theo dõi, áp dụng.
12. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu, đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt các nội dung trong Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005, thể chế hóa các nội dung Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII và những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn (UBND tỉnh Hải Dương).
Trả lời:
Để thực hiện Kết luận số 83-KL/TW ngày 29/7/2020 của Bộ Chính trị về tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, thời gian qua, Bộ Tư pháp đã tham mưu cho Ban cán sự đảng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 83-KL/TW (kèm theo Quyết định số 04/QĐ-TTg ngày 07/01/2021). Đồng thời, Bộ cũng đã ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Tư pháp (Quyết định số 59/QĐ-BTP-m ngày 04/02/2021).
Trong Kế hoạch của Chính phủ đã giao các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, HĐND các cấp, UBND các cấp rà soát, xác định, đề xuất các nội dung định hướng, các lĩnh vực trước mắt cần ưu tiên hoàn thiện hệ thống pháp luật, tập trung vào thể chế hóa Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII, những định hướng đã được đề ra trong Nghị quyết số 48-NQ/TW và các văn kiện của Đảng, nhưng chưa được thể chế hóa và những vấn đề mới nảy sinh do thực tiễn đòi hỏi; đồng thời xác định định hướng lớn cho giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đưa vào Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong đó, cần chú trọng hoàn thiện thể chế về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013.
Nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ, đúng hạn các nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch thực hiện Kết luận số 83-KL/TW, Bộ Tư pháp đã có Công văn đôn đốc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND và HĐND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Công văn số 453/BTP-VĐCXDPL ngày 23/02/2021) và các đơn vị có liên quan thuộc Bộ Tư pháp (Công văn số 66/VĐCXDPL-CSPL ngày 25/02/2021). Trên cơ sở đề xuất của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, HĐND và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ Tư pháp đã nghiên cứu, rà soát, xác định, đề xuất các nội dung định hướng, các lĩnh vực cần ưu tiên hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thời gian tới, kết hợp kết quả nghiên cứu tại nhiệm vụ xây dựng Báo cáo của Ban cán sự đảng Chính phủ về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XV.
13. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu Quốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung Điều 14 của Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) theo hướng cho phép UBND cấp tỉnh quy định bổ sung, hoàn thiện các bộ phận tạo thành TTHC nếu Luật, Nghị định quy định chưa đầy đủ hoặc không phù hợp về trình tự, các bước thực hiện (nếu có đủ căn cứ, cơ sở pháp lý) - (UBND tỉnh Hải Dương).
Trả lời:
Sau khi được sửa đổi, bổ sung năm 2020, Luật năm 2015 đã có nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ khó khăn cho Bộ, ngành, địa phương, trong đó có khó khăn trong việc quy định TTHC trong VBQPPL do các chủ thể đó ban hành. Đối với địa phương, các quy định mới được sửa đổi, bổ sung của Luật năm 2015 cho phép: quy định TTHC khi được giao trong nghị quyết của Quốc hội (ngoài được giao trong luật); quy định TTHC trong nghị quyết quy định tại khoản 4 Điều 27 của Luật, tạo cơ sở để thực hiện các biện pháp có tính chất đặc thù ở địa phương; sửa đổi, bổ sung các TTHC trong các VBQPPL do mình đã ban hành trước ngày 01/7/2016 với một số điều kiện nhất định (không làm phát sinh TTHC mới hoặc quy định thêm thành phần hồ sơ, yêu cầu, điều kiện, tăng thời gian giải quyết TTHC).
Luật năm 2015 được sửa đổi, bổ sung một số điều trên cơ sở tổng hợp ý kiến đề xuất, góp ý của các cơ quan, tổ chức hữu quan từ trung ương đến địa phương. Việc sửa đổi, bổ sung Luật này mới được Quốc hội tiến hành trong một thời gian ngắn (ngày 18/6/2020), hiện đang trong giai đoạn tổ chức triển khai thực hiện các quy định mới được sửa đổi, bổ sung. Do vậy, nhiệm vụ chủ yếu trong giai đoạn hiện nay là các Bộ, ngành, địa phương tập trung nguồn lực để bảo đảm thực hiện tốt các quy định của Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP).
Kiến nghị của UBND tỉnh Hải Dương về việc sửa đổi, bổ sung Điều 14 của Luật năm 2015, Bộ Tư pháp xin ghi nhận và sẽ nghiên cứu kỹ để có đề xuất cụ thể, phù hợp với Chính phủ, Quốc hội trong quá trình tiếp tục hoàn thiện thể chế về ban hành VBQPPL ở nước ta.
14. Đề nghị Bộ Tư pháp ban hành Thông tư thay thế Thông tư số 07/2014/TT-BTP ngày 24/02/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn việc đánh giá tác động của TTHC và rà soát, đánh giá TTHC để bảo đảm phù hợp với quy định về đánh giá tác động TTHC trong Báo cáo đánh giá tác động của chính sách khi tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh nghị quyết về chính sách đặc thù theo khoản 4 Điều 27 Luật Ban hành VBQPPL (UBND tỉnh Khánh Hòa).
Trả lời:
Để phù hợp với Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020, Bộ Tư pháp đã tổng kết đánh giá thực hiện Thông tư số 07/2014/TT-BTP ngày 24/02/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn việc đánh giá tác động thủ tục hành chính (TTHC) và rà soát, đánh giá TTHC và đề xuất những nội dung sửa đổi, bổ sung. Đến nay, Bộ Tư pháp đã xây dựng và hoàn thiện dự thảo Thông tư hướng dẫn việc đánh giá tác động TTHC trong lập đề nghị xây dựng VBQPPL và soạn thảo dự án, dự thảo VBQPPL, thay thế Thông tư số 07/2014/TT-BTP, trong đó có hướng dẫn việc đánh giá tác động khi lập đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh theo khoản 4 Điều 27 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2020). Dự thảo Thông tư đang trình Lãnh đạo Bộ xem xét, dự kiến ký ban hành trong tháng 12/2021.
15. Đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu bổ sung quy định mức chi đối với các hoạt động lập đề nghị xây dựng VBQPPL như chỉnh lý, hoàn thiện đề nghị xây dựng VBQPPL; lập các loại kế hoạch, danh mục, chương trình, kế hoạch xây dựng VBQPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương; mức chi đối với hoạt động góp ý, thẩm định, thẩm tra đề nghị xây dựng VBQPPL được quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 181, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật BHVBQPPL (UBND tỉnh Kon Tum).
Trả lời:
Quá trình nghiên cứu, tổng kết, đánh giá việc thực hiện Thông tư số 338/2016/TT-BTC cho thấy Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 đã đổi mới cơ bản quy trình xây dựng, ban hành văn bản theo hướng tách bạch quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị định và nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, trong đó tập trung quy định về quy trình xây dựng chính sách theo hướng chính sách được thông qua, phê duyệt trước khi bắt đầu soạn thảo văn bản. Tuy nhiên, Thông tư số 338/2016/TT-BTC chưa quy định chưa cụ thể về nội dung chi đối với giai đoạn lập đề nghị xây dựng VBQPPL. Theo quy định của Luật năm 2015, một số công việc thực tế các cơ quan phải thực hiện nhưng lại không được quy định tại Thông tư số 338/2016/TT-BTC như: hoạt động thẩm định, thẩm tra đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh. Với quy trình 2 giai đoạn theo quy định của Luật năm 2015, việc không tách bạch các mức chi và nội dung chi đối với giai đoạn lập đề nghị xây dựng VBQPPL gây ra rất nhiều khó khăn cho việc lập và quyết toán kinh phí cho các hoạt động liên quan đến công tác lập đề nghị xây dựng VBQPPL.
Trên cơ sở những vướng mắc, bất cập liên quan đến công tác lập đề nghị xây dựng VBQPPL, Bộ Tư pháp đã đề nghị sửa đổi, bổ sung quy định về việc lập đề nghị xây dựng VBQPPL thành một mục riêng với các mức chi cụ thể; bố trí kinh phí riêng cho công tác lập đề nghị xây dựng VBQPPL, lấy ý kiến, thẩm định đề nghị xây dựng VBQPPL gửi Bộ Tài chính nghiên cứu để sớm quy định, ban hành.
16. Tại khoản 2 Điều 64 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phỉ quy định “Đối với văn bản ban hành kèm theo văn bản khác thì phần kết thúc của văn bản được ban hành kèm theo gồm: chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền ký ban hành văn bản; dấu của cơ quan ban hành văn bản”. Tuy nhiên, các mẫu văn bản ban hành kèm theo văn bản khác tại Phụ lục I Nghị định số 154/2020/NĐ-CP của Chính phủ, phần kết thúc của văn bản ban hành kèm theo không theo quy định trên. Vì vậy, đề nghị Bộ Tư pháp có hướng dẫn để thực hiện thống nhất (UBND tỉnh Kon Tum).
Trả lời:
Khoản 2 Điều 64 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định: “Đối với văn bản ban hành kèm theo văn bản khác, thì phần kết thúc của văn bản được ban hành kèm theo gồm: chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền ký ban hành văn bản; dấu của cơ quan ban hành văn bản.”.
Tại các Mẫu số 02, 05, 08, 10, 12, 15, 17, 19, 21, 23, 25 và 27 của Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 34/2016/NĐ-CP không có quy định về phần kết thúc văn bản được ban hành kèm theo văn bản khác (tức là không có phần chức vụ, họ tên, chữ ký của người có thẩm quyền ký ban hành văn bản và dấu của cơ quan ban hành văn bản), mà chỉ quy định về việc đóng dấu treo đối với văn bản ban hành kèm theo văn bản khác. Việc không quy định về phần kết thúc văn bản, mà thay vào đó quy định đóng dấu treo là để người có thẩm quyền ký văn bản không phải ký hai lần, một lần ký văn bản chính và một lần ký văn bản kèm theo.
Việc lựa chọn pháp luật để áp dụng trong trường hợp hai VBQPPL do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề đã được quy định tại khoản 3 Điều 156 của Luật năm 2015 như sau: “Trong trường hợp các VBQPPL do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của VBQPPL ban hành sau”.
Vì vậy, để bảo đảm thực hiện đúng quy định của Luật năm 2015, đề nghị Bộ, ngành, địa phương áp dụng các mẫu tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 154/2020/NĐ-CP đối với văn bản được ban hành kèm theo văn bản khác.
17. Bộ Tư pháp cần quan tâm, nhận thức đầy đủ hơn về nội dung, yêu cầu của công tác xây dựng, ban hành và kiểm tra VBQPPL; từ đó cần ưu tiên các nguồn lực cho bảo đảm chất lượng của văn bản; nhất là khảo sát, đánh giá tác động, lấy ý kiến, thẩm định một cách thực chất để bảo đảm tính hợp pháp, khả thi của VBQPPL (UBND tỉnh Nghệ An).
Trả lời:
Hoạt động xây dựng, ban hành VBQPPL và kiểm tra, xử lý VBQPPL có vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo khung pháp lý cho sự phát triển về mọi mặt của đất nước. Quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL và kiểm tra, xử lý VBQPPL hiện nay được quy định trong Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2020) và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP).
Với vai trò là cơ quan tham mưu, giúp Chính phủ về công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, và với tư cách là cơ quan chủ trì xây dựng và tổ chức thi hành các VBQPPL về ban hành VBQPPL trong phạm vi cả nước, Bộ Tư pháp luôn tự đặt ra cho bản thân cơ quan mình nhiệm vụ và yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, địa phương tuân thủ đầy đủ và đúng đắn các quy định của Luật Ban hành VBQPPL và Nghị định quy định chi tiết, đặc biệt là các quy định về xây dựng, ban hành, kiểm tra, xử lý VBQPPL để bảo đảm chất lượng của hệ thống VBQPPL.
Các đơn vị của Bộ Tư pháp được giao chủ trì xây dựng VBQPPL luôn cố gắng tuân thủ nghiêm các quy định của Luật năm 2015 về quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL, từ khâu hoạch định chính sách, soạn thảo, thông qua văn bản cho đến tổ chức thi hành văn bản và xử lý các văn bản bị phát hiện có nội dung sai trái, mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu tính khả thi hoặc không phù hợp với thực tế. Đồng thời, thực hiện nghiêm các nhiệm vụ nêu trong Chỉ thị số 43/CT-TTg ngày 11/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật.
Về hoạt động khảo sát, đánh giá tác động của chính sách, lấy ý kiến đối với dự thảo VBQPPL, Luật năm 2015 quy định trong quá trình lập đề nghị xây dựng và soạn thảo VBQPPL, cơ quan lập đề nghị và soạn thảo phải tiến hành tổng kết việc thi hành pháp luật, khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội; tổ chức nghiên cứu khoa học; đặc biệt là đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng VBQPPL… Mục đích của các quy định này là nhằm bảo đảm việc ban hành văn bản là có căn cứ khoa học và thực tiễn, các chính sách đưa ra là cần thiết, hữu ích cho xã hội và có tính khả thi.
Các quy định nêu trên của Luật năm 2015 đều được các đơn vị của Bộ Tư pháp thực hiện nghiêm túc trong quá trình xây dựng VBQPPL thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng như thuộc thẩm quyền ban hành của các cơ quan nhà nước khác. Ngoài ra, Bộ Tư pháp cũng đã chú trọng phát huy hơn nữa sự tham gia góp ý của Nhân dân; huy động trí tuệ của chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý; tăng cường sự giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức xã hội, phương tiện thông tin đại chúng trong quá trình xây dựng, thẩm định, kiểm tra VBQPPL; cải tiến, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác phối hợp giữa các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp và giữa Bộ Tư pháp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan có liên quan khác trong quá trình xây dựng, thẩm định, kiểm tra VBQPPL.
Hoạt động thẩm định VBQPPL được Bộ Tư pháp đặc biệt quan tâm. Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành một Quyết định riêng về thẩm định đề nghị xây dựng pháp luật và dự án, dự thảo VBQPPL áp dụng trong nội bộ cơ quan Bộ Tư pháp. Để bảo đảm chất lượng thẩm định, hầu như đối với mọi dự thảo văn bản phải thẩm định, các đơn vị xây dựng pháp luật của Bộ Tư pháp đều thành lập Hội đồng thẩm định hoặc Hội đồng tư vấn thẩm định để thẩm định đề nghị hoặc dự án, dự thảo văn bản. Về nội dung thẩm định, ngoài việc đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo văn bản với hệ thống pháp luật theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL, việc thẩm định tại Bộ Tư pháp cũng đã chú trọng đến tính khả thi và tính phù hợp với thực tế của dự thảo văn bản; nhiều ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp đã được tiếp thu để chỉnh lý dự thảo văn bản; những ý kiến thẩm định không tiếp thu đã được giải trình khá rõ ràng, cụ thể.
Về nguồn nhân lực để thực hiện có hiệu quả các hoạt động trên: Bộ Tư pháp chú trọng nâng cao năng lực và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác soạn thảo, thẩm định VBQPPL của Bộ; bố trí hợp lý số lượng cán bộ, công chức làm công tác này tại các đơn vị; thường xuyên tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực phân tích, xây dựng chính sách pháp luật và kỹ năng soạn thảo, thẩm định, kiểm tra VBQPPL cho đội ngũ này.
Về nguồn kinh cho công tác xây dựng pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật: Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp cùng Bộ Tài chính nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Thông tư số 338/2016/TT-BTC ngày 28/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng VBQPPL và hoàn thiện hệ thống pháp luật để phù hợp với tình hình thực tiễn.
18. Đề nghị Bộ Tư pháp thường xuyên có các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ để địa phương tham khảo/Có chuyên mục trao đổi, hướng dẫn nghiệp vụ để Bộ Tư pháp và các địa phương tương tác hoặc đăng tải các tình huống về nghiệp vụ liên quan đến xây dựng pháp luật để địa phương nghiên cứu, tham khảo, vận dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ (UBND tỉnh Vĩnh Long).
Trả lời:
Về tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ
Trong thời gian qua, đặc biệt là từ khi Quốc hội thông qua Luật Ban hành VBQPPL (Luật năm 2015), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL (Luật năm 2020) và Chính phủ ban hành Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành VBQPPL, Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đến nay, Bộ Tư pháp đã tích cực nghiên cứu, xây dựng và liên tục hoàn thiện các tài liệu tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về quy trình, kỹ năng xây dựng chính sách, nghiệp vụ đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng VBQPPL, soạn thảo VBQPPL. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương trong việc triển khai thi hành Luật, Bộ Tư pháp đã xuất bản các sách hướng dẫn nghiệp vụ về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách, soạn thảo VBQPPL và đã đăng tải công khai trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp để các Bộ, ngành, địa phương và công dân truy cập, áp dụng.
Chỉ riêng trong năm 2021, Bộ Tư pháp đã:
- Xây dựng 02 tài liệu tập huấn chuyên sâu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL, gồm: (1) Tài liệu tập huấn chuyên sâu về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL cho các cơ quan, tổ chức ở Trung ương; (2) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL cho địa phương. Các tài liệu tập trung vào kỹ năng xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách, kỹ năng soạn thảo, thẩm định VBQPPL, nghiệp vụ kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL. Ðến nay các tài liệu ðã hoàn thành và đưa vào sử dụng tại các lớp tập huấn chuyên sâu về xây dựng, ban hành VBQPPL.
- Xây dựng và xuất bản sách “Những điểm mới cơ bản của Luật Ban hành VBQPPL và văn bản quy định chi tiết”. Bộ đã gửi Công văn thông tin về cuốn sách nêu trên cho Bộ, ngành, địa phương.
- Đến nay, Bộ Tư pháp đang tập trung để xây dựng cuốn sách “Hỏi đáp về Luật Ban hành VBQPPL”.
Về đề nghị có chuyên mục trao đổi, hướng dẫn nghiệp vụ
Hiện nay, trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp đã có Chuyên mục “Nghiên cứu, trao đổi”“Hướng dẫn nghiệp vụ”. Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cũng đã xây dựng Trang thông tin điện tử về “Xây dựng pháp luật” trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp. Trang thông tin điện tử về “Xây dựng pháp luật” thường xuyên cập nhật, đăng tải thông tin về xây dựng pháp luật như: (1) các tin, bài viết về hoạt động xây dựng pháp luật, về công tác pháp chế, kiểm soát TTHC, soạn thảo, ban hành VBQPPL của bộ, ngành, địa phương; (2) các bài viết nghiên cứu, trao đổi về chuyên môn, nghiệp vụ liên quan đến công tác xây dựng, ban hành VBQPPL; (3) các thông tin, tài liệu, báo cáo liên quan đến công tác lập đề nghị, soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định đề nghị xây dựng VBQPPL, dự án, dự thảo VBQPPL...
19. Để bảo đảm việc hiểu và áp dụng đúng các quy định của Luật Ban hành VBQPPL, nhất là cách xác định nội dung văn bản thuộc trường hợp nào theo quy định tại Điều 27, Điều 28 Luật Ban hành VBQPPL, cần có tiêu chí cụ thể để nhận biết, phân biệt trường hợp nào ban hành VBQPPL thuộc khoản 2, trường hợp nào ban hành VBQPPL thuộc khoản 4 Điều 27 Luật Ban hành VBQPPL (UBND tỉnh Vĩnh Long).
Trả lời:
Ngày 12/11/2021, Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long đã có Công văn số 1338/STP-XDKT&TDTHPL gửi Bộ Tư pháp đề nghị hướng dẫn nghiệp vụ trong việc xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Vĩnh Long quy định nội dung chi và mức chi tổ chức các kỳ thi, cuộc thi, hội thi trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo trên địa bàn tỉnh. Sau khi nhận được Công văn nêu trên của Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long, Bộ Tư pháp đã có Công văn trả lời gửi Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long để nghiên cứu, tham khảo. Theo đó, có hướng dẫn áp dụng khoản 2 và khoản 4 Điều 27 của Luật Ban hành VBQPPL như sau:
“1.1. Về nghị quyết tại khoản 2 Điều 27:
Khoản 1 Điều 112 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương…”. Việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương có thể được bảo đảm bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có việc ban hành VBQPPL của chính quyền địa phương. Do vậy, khoản 2 Điều 27 của Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (Luật năm 2015) quy định HĐND cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định “Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên”.
Như vậy, ngoài ban hành nghị quyết quy phạm để quy định chi tiết nội dung được giao trong VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định tại khoản 1, HĐND cấp tỉnh còn ban hành nghị quyết quy phạm để quy định chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên tại địa phương theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Luật năm 2015.
1.2. Về nghị quyết tại khoản 4 Điều 27:
Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP) không giải thích thế nào làm “biện pháp có tính chất đặc thù”. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy “biện pháp có tính chất đặc thù” là biện pháp để giải quyết những vấn đề riêng biệt của địa phương phát sinh từ thực tiễn, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế hoặc nhằm hạn chế, khắc phục những điểm bất lợi của địa phương đó. Tính chất đặc thù của biện pháp phụ thuộc vào vị trí địa - chính trị hoặc trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương. Ví dụ: vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn… Để xác định biện pháp có tính chất đặc thù, cần căn cứ vào các VBQPPL hiện hành của cơ quan nhà nước ở Trung ương để xác định biện pháp đó đã được quy định để áp dụng chung cho cả nước hay chưa; nếu biện pháp đó chưa được quy định trong VBQPPL hiện hành của cơ quan nhà nước ở Trung ương và xuất phát từ thực tiễn địa phương cần thiết phải ban hành để giải quyết các vấn đề riêng biệt của địa phương thì được coi là biện pháp có tính chất đặc thù. Việc quy định các biện pháp có tính chất đặc thù ở địa phương phải bảo đảm phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật”.
Bộ Tư pháp cho rằng, vướng mắc của tỉnh Vĩnh Long trong việc xác định, phân biệt nghị quyết quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 27 của Luật Ban hành VBQPPL cũng là vướng mắc của một số địa phương khác, do vậy đề nghị các tỉnh, thành phố nghiên cứu nội dung văn bản của Bộ Tư pháp gửi tỉnh Vĩnh Long để tham khảo khi tham mưu cho UBND cấp tỉnh trong việc áp dụng Điều 27 của Luật năm 2015.

II. CỤC KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
1. Đề nghị Bộ Tư pháp cần phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm tra, rà soát hệ thống hóa văn bản; kịp thời sửa đổi, bổ sung những điểm bất cập, hạn chế của pháp luật để đảm bảo tính thống nhất, khả thi khi áp dụng thực hiện (UBND tỉnh Bình Định)
Trả lời:
Bộ Tư pháp đã tham mưu, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó đã sửa đổi một số nội dung về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật để đáp ứng yêu cầu thực hiện các công tác này.
2. Đề nghị Bộ Tư pháp cần tăng cường tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng, nghiệp vụ về kiểm tra, rà soát hệ thống hóa văn bản cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác này tại địa phương (UBND các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Đà Nẵng, Bình Định, Cao Bằng, Cà Mau, Vĩnh Long, Bộ Quốc phòng).
Trả lời:
Thời gian qua, Bộ Tư pháp luôn chú trọng và tăng cường tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ cho công chức thực hiện công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản thông qua các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác soạn thảo, ban hành văn bản QPPL do Bộ Tư pháp tổ chức hằng năm, trong đó, Cục Kiểm tra văn bản QPPL là đơn vị trực tiếp hướng dẫn, tập huấn, hướng dẫn về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản.
Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp đã tổ chức nhiều Hội nghị, hội thảo, tọa đàm liên quan đến công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL với thành phần tham gia là đại diện tổ chức pháp chế các bộ, ngành và Sở Tư pháp các địa phương, trong đó có nội dung tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ, giải đáp và tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn của các Bộ, ngành, địa phương trong quá trình triển khai các công tác nêu trên. Cụ thể: Trong năm 2019, Bộ Tư pháp đã tổ chức 08 lượt hội thảo chuyên sâu về văn bản trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường và kinh tế và các cuộc họp giao ban định kỳ hằng quý về công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL tại 04 khu vực/địa phương; Năm 2020, Bộ Tư pháp đã tổ chức 07 lượt hội thảo, hội nghị về công tác kiểm tra, rà soát văn bản QPPL tại 04 khu vực/địa phương. Ngoài ra, Cục Kiểm tra văn bản QPPL đã cử nhiều lượt công chức làm báo cáo viên tập huấn kỹ năng nghiệp vụ kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL do các Bộ, địa phương tổ chức hàng năm.
Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp đã tổ chức biên soạn, phát hành và đăng tải công khai trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp các cuốn sách nghiệp vụ về các công tác nêu trên như: Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL năm 2016; Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ kiểm tra văn bnar QPPL năm 2016; Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ kiểm tra văn bnar QPPL năm 2018  (địa chỉ: Trang thông tin về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và hợp nhất văn bản QPPL thuộc Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp). Đề nghị các Bộ, ngành, địa phương truy cập vào địa chỉ nêu trên để nghiên cứu, tham khảo phục vụ cho việc năng cao trình độ, kỹ năng nghiệp vụ công tác.
3. Đề nghị các Bộ, ngành thường xuyên thực hiện rà soát các văn bản QPPL do mình ban hành hoặc tham mưu ban hành để xử lý kịp thời đối với những văn bản không còn phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành, chủ động công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực thi hành tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương trong việc tra cứu, theo dõi, thực hiện (UBND tỉnh Lào Cai).
Trả lời:

Thời gian qua, thực hiện trách nhiệm rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL theo quy định của Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, Bộ Tư pháp đã thường xuyên tiến hành rà soát các văn bản QPPL do mình ban hành hoặc tham mưu ban hành để kịp thời phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý các văn bản QPPL mâu thuẫn, chồng chéo, không còn phù hợp. Việc rà soát văn bản QPPL tại Bộ Tư pháp luôn được chú trọng thực hiện đảm bảo chất lượng, hiệu quả, đúng quy định. Định kỳ hằng năm, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đều công bố Danh mục văn bản QPPL thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần, đăng Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp và gửi đăng Công báo theo quy định tại Điều 157 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Bên cạnh đó, hằng năm, để phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng công bố Danh mục văn bản QPPL thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp còn hiệu lực (tính đến 30/6 trong năm). Danh mục này được đăng công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp để các địa phương, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể dễ dàng tiếp cận, tra cứu, theo dõi, thực hiện.
4. Đề nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu, ban hành chế tài cụ thể trong việc xử lý văn bản QPPL trái pháp luật, văn bản hành chính có chứa QPPL để công tác kiểm tra văn bản đạt hiệu quả thiết thực (UBND tỉnh Phú Thọ).
 Trả lời:
Việc ban hành chế tài cụ thể trong việc xử lý văn bản QPPL trái pháp luật, văn bản hành chính có chứa QPPL thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Tại Nghị định 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ (được sửa đổi bổ sung tại Nghị định 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020), vấn đề xử lý văn bản QPPL trái pháp luật, văn bản hành chính có chứa QPPL và xem xét, xử lý trách nhiệm của các cá nhân, tập thể liên quan đến việc ban hành và xử lý văn bản trái pháp luật đã được quy định cụ thể tại các Điều 108, 112, 133 và 134 của Nghị định. Theo đó, cán bộ, công chức liên quan đến việc ban hành và xử lý văn bản trái pháp luật tùy theo tính chất, mức độ lỗi phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức. Về vấn đề này, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu, tham mưu với Chính phủ để hoàn thiện quy định của pháp luật trong thời gian tới. 
III. CỤC QUẢN LÝ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ THEO DÕI THI HÀNH PHÁP LUẬT
1. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, theo dõi thi hành pháp luật; kịp thời sửa đổi, bổ sung những điểm bất cập, hạn chế để đảm bảo tính thống nhất, khả thi khi áp dụng thực hiện (UBND các tỉnh: Bình Định, Bình Phước).
Trả lời:
Hàng năm, công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và theo dõi tình hình thi hành pháp luật luôn được Bộ Tư pháp quan tâm, chú trọng. Theo đó, nhằm đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, đồng thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành, riêng trong năm 2021, Bộ Tư pháp đã và đang xây dựng, hoàn thiện, trình cấp có thẩm quyền hoặc ban hành theo thẩm quyền một số văn bản, đề án trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính và theo dõi tình hình thi hành pháp luật sau đây: (i) Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính; (ii) Nghị định quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; (iii) Thông tư số 04/2021/TT-BTP ngày 21/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật và Nghị định số 32/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP;  Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết Nghị định số 19/2020/NĐ-CP ngày 12/02/2020 của Chính phủ kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; (v) Thông tư quy định chi tiết việc xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật; (vi) Hồ sơ đề nghị xây dựng Luật tổ chức thi hành pháp luật.
Đồng thời, thực hiện Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính (ban hành kèm theo Quyết định số 126/QĐ-TTg ngày 26/01/2021 Thủ tướng Chính phủ), Bộ Tư pháp cũng đã phối hợp với các Bộ, ngành tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung các nghị định về xử lý vi phạm hành chính để đảm bảo phù hợp với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục tiến hành rà soát, tổng kết việc triển khai thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và theo dõi tình hình thi hành pháp luật để tiến hành sửa đổi, bổ sung, kịp thời hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.
2. Đề nghị Bộ Tư pháp tăng cường tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng, nghiệp vụ về xử lý vi phạm hành chính cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác này tại các Bộ, ngành và địa phương (UBND các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Đà Nẵng, Hà Nam, Bình Định, Sơn La, Quảng Trị, Bộ Công thương).
Trả lời:
Thực hiện nhiệm vụ giúp Chính phủ quản lý thống nhất công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi cả nước, thời gian qua, Bộ Tư pháp rất chú trọng công tác tập huấn chuyên sâu, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ về xử lý vi phạm hành chính cho các đối tượng có liên quan làm công tác này tại các địa phương. Hàng năm, Bộ Tư pháp đều xây dựng kế hoạch và tổ chức khoảng 10 lớp tập huấn về công tác xử lý vi phạm hành chính cho các đối tượng là các cán bộ có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính và các cán bộ đảm nhiệm nhiệm vụ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Các hội nghị tập huấn đã kịp thời cập nhật các kỹ năng cần thiết và những quy định mới của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, giúp học viên tích lũy thêm nhiều kiến thức pháp lý, kinh nghiệm thực tiễn, kỹ năng và các giải pháp xử lý tình huống đ thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ công tác được giao.
Bên cạnh các Hội nghị tập huấn do Bộ Tư pháp chủ trì tổ chức, theo đề nghị của một số địa phương, Bộ Tư pháp cũng đã cử công chức tham gia giảng dạy, hỗ trợ làm báo cáo viên tại nhiều Hội nghị tập huấn về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính do các Bộ, ngành, địa phương tổ chức.
Năm 2021, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên việc tổ chức các Hội nghị gặp nhiều khó khăn, hạn chế nên Cục QLXLVPHC&TDTHPL dự kiến chỉ tổ chức 03 Hội nghị tập huấn chuyên sâu về xử phạt vi phạm hành chính có thu phí tại Hòa Bình, Hải Phòng, Lạng Sơn và 01 Hội nghị trực tuyến tập huấn về áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Quảng Bình.
Bộ Tư pháp ghi nhận kiến nghị của các Bộ, ngành, địa phương, trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục tăng cường tổ chức bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu về xử lý vi phạm hành chính bằng các hình thức phù hợp nhằm nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ cho những người làm công tác này tại các Bộ, ngành, địa phương.
Bên cạnh đó, tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính (ban hành kèm theo Quyết định số 126/QĐ-TTg ngày 26/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ), một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai thực hiện là tập huấn chuyên sâu và bồi dưỡng nghiệp vụ về xử lý vi phạm hành chính cho công chức thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ở các cơ quan Trung ương và địa phương trong năm 2021 và các năm tiếp theo. Vì vậy, đề nghị các địa phương quan tâm, chủ động tổ chức bồi dưỡng, tập huấn cho những người làm công tác này tại địa phương mình.
3. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm triển khai Cơ sở dữ liệu quốc gia về XLVPHC để giúp cho việc theo dõi, đánh giá đảm bảo tính chính xác, góp phần quản lý tốt công tác XLVPHC tại các địa phương và cả nước (UBND các tỉnh: Bình Phước, Bến Tre, Hà Nam, Bộ Công thương).
Trả lời:
Hiện nay, Dự án đưa Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính đã được phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án - giai đoạn 1, Bộ Tư pháp đang thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư công và cố gắng hoàn thiện để sớm đưa Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính vào vận hành đ phục vụ công tác quản lý nhà nước.
4. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành quy định về nhân sự chuyên trách thực hiện nhiệm vụ theo dõi thi hành pháp luật nhằm đảm bảo chất lượng, khối lượng công việc thực hiện nhiệm vụ theo dõi thi hành pháp luật… (UBND các tỉnh: Cà Mau, Đồng Tháp).
Theo “Đề án Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật” giai đoạn năm 2018 - 2022 (phê duyệt kèm theo Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 26/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ), Bộ Nội vụ có trách nhiệm chủ trì, phối hợp Bộ Tư pháp, các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan liên quan thực hiện nhiệm vụ “Kiện toàn tổ chức pháp chế các Bộ, ngành; bố trí biên chế pháp chế chuyên trách tại các Sở, ngành chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong tổng biên chế được giao để thực hiện nhiệm vụ công tác pháp chế nói chung và làm đầu mối công tác tổ chức thi hành pháp luật nói riêng” (thời gian thực hiện: năm 2018 - 2022).
Ngày 22/6/2018, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 2276/BTP-QLXLVPHC& TDTHPL gửi Bộ Nội vụ về việc đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ này.
Bộ Tư pháp ghi nhận kiến nghị của các địa phương, trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tích cực phối hợp với Bộ Nội vụ và các cơ quan có liên quan thực hiện nhiệm vụ nêu trên.
5. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm ban hành Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định số 19/2020/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2020 của Chính phủ quy định kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính để địa phương dễ thực hiện (UBND các tỉnh: Đồng Tháp, Lào Cai, Bộ Công thương).
Trả lời:
Hiện nay, dự thảo Thông tư quy định chi tiết Nghị định số 19/2020/NĐ-CP ngày 12/02/2020 của Chính phủ kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đã được chỉnh lý, hoàn thiện trên cơ sở ý kiến thẩm định, đang trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, ký ban hành.
6. Đề nghị Bộ Tư pháp triển khai Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật (UBND tỉnh Vĩnh Long).
Trả lời:
Bộ Tư pháp đã và đang tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ theo Quyết định số 126/QĐ-TTg ngày 26/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Theo đó, Bộ Tư pháp đã tổ chức thành công 02 Hội nghị triển khai Luật tại 02 miền với sự tham gia đông đảo của các địa phương trên cả nước (tại Hà Nội ngày 16/4/2021 và tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 27/4/2021). Hiện nay, Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng đang được trình Chính phủ xem xét, ký ban hành. Đồng thời, để triển khai thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp cũng đã tổ chức thẩm định “chùm” nghị định về xử lý vi phạm hành chính do các Bộ chủ trì soạn thảo, đảm bảo phù hợp với quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cũng dự kiến tổ chức một số Hội nghị tập huấn chuyên sâu về xử lý vi phạm hành chính nhằm kịp thời phổ biến, tập huấn các quy định mới của Luật cho các đối tượng có liên quan.
Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục tiến hành tổ chức các lớp tập huấn, kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính theo Kế hoạch triển khai thi hành Luật. Đồng thời, Bộ Tư pháp cũng sẽ tổ chức một số hội nghị, hội thảo nhằm phổ biến, quán triệt các quy định mới của Luật, góp phần sớm đưa Luật vào cuộc sống.
7. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm ban hành: Thông tư thay thế Thông tư 14/2014/TT-BTP ngày 15/5/2014 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Thông tư quy định chi tiết việc xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật tại Nghị định số 59/2012/Đ-CP và Nghị định số 32/2020/NĐ-CP của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Ban hành Khung theo dõi và Bộ tiêu chí đánh giá tình hình thi hành pháp luật để các đơn vị, địa phương thực hiện theo yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình hiện nay; Tăng cường tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu, bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại các địa phương; tập huấn, hướng dẫn cụ thể quy trình, phương pháp tiến hành việc theo dõi, đánh giá việc thi hành pháp luật để cho đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện thống nhất (UBND tỉnh Lào Cai).
Trả lời:
- Ngày 21/6/2021, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 04/2021/TT-BTP hướng dẫn thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật và Nghị định số 32/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP (Thông tư này bãi bỏ Chương 2, Chương 3 của Thông tư số 14/2014/TT-BTP).
- Đối với Thông tư quy định chi tiết việc xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật và việc ban hành Khung theo dõi và Bộ tiêu chí đánh giá tình hình thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đang chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Thông tư xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật, dự kiến ban hành trong năm 2021.
- Về tăng cường tập huấn công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, hàng năm, Bộ Tư pháp đều xây dựng kế hoạch và tổ chức khoảng 02-03 lớp tập huấn về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật cho các đối tượng là các cán bộ làm công tác này tại địa phương.
Năm 2021, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên việc tổ chức các Hội nghị gặp nhiều khó khăn, hạn chế nên Bộ Tư pháp chỉ tổ chức 01 Hội nghị trực tuyến tập huấn chuyên sâu về theo dõi thi hành pháp luật (đại biểu thuộc các tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, ).
Bộ Tư pháp ghi nhận kiến nghị của các địa phương, trong thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục tăng cường tổ chức bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu về theo dõi tình hình thi hành pháp luật nhằm nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ cho những người làm công tác này tại các địa phương.
8. Đề nghị Bộ Tài chính xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về chế độ tài chính đặc thù cho công tác theo dõi thi hành pháp luật (UBND tỉnh Lào Cai, Bộ Công thương).
Trả lời:
Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng dự thảo Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tài chính thay thế Thông tư số 338/2016/TT-BTC ngày 28/12/2016 quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Theo đó, những nội dung liên quan đến chế độ kinh phí về báo cáo theo dõi tình hình thi hành pháp luật và một số nội dung chi, định mức chi về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật đang được đề xuất đưa vào dự thảo Thông tư.
Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu xây dựng và ban hành Thông tư quy định về chế độ tài chính cho công tác theo dõi thi hành pháp luật.
9. Đề nghị Bộ Tư pháp có hướng dẫn về việc thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chánh thanh tra Sở trong trường hợp Thanh tra Sở được sáp nhập vào một đơn vị khác thuộc Sở (UBND tỉnh Khánh Hòa).
Trả lời:
Theo quy định về thay đổi tên gọi, nhiệm vụ, quyền hạn của chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính tại khoản 27 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính (Luật có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2022), sự thay đổi của chức danh có thẩm quyền xử phạt được chia thành 02 trường hợp và xử lý như sau:
“1. Trường hợp chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Luật này có sự thay đổi về tên gọi nhưng không có sự thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn thì thẩm quyền xử phạt của chức danh đó được giữ nguyên.
2. Trường hợp chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có sự thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn thì thẩm quyền xử phạt của chức danh đó do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội”.
Theo quy định hiện hành, Điều 53 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định “Trường hợp chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Luật này có sự thay đổi về tên gọi thì chức danh đó có thẩm quyền xử phạt”. Mặc dù chưa quy định cụ thể như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính song quy định này cũng có thể hiểu và áp dụng tương tự như quy định đã được sửa đổi, bổ sung nêu trên.
Như vậy, trường hợp chức danh Chánh Thanh tra Sở sau khi Thanh tra Sở sáp nhập vào đơn vị khác thuộc Sở sẽ có sự thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn của chức danh này. Theo đó, chức danh sau khi sáp nhập chỉ có thẩm quyền xử phạt sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
IV. TỔNG CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Đề nghị Bộ Tư pháp trao đổi, thống nhất với Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, chỉ đạo Tổng cục Thi hành án dân sự quan tâm hơn nữa trong việc cung cấp thông tin theo đề nghị của Sở Tư pháp để đảm bảo việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho công dân (UBND tỉnh Hà Nam).
Trả lời:
Ngày 27/8/2013, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 2153/QĐ-BTP ban hành quy chế phối hợp công tác giữa cơ quan Tư pháp và cơ quan Thi hành án dân sự địa phương (THADS). Quy chế quy định nguyên tắc, hình thức, trách nhiệm và nội dung phối hợp giữa Sở Tư pháp với Cục THADS; Phòng Tư pháp với Chi cục THADS trên một số lĩnh vực, trong đó có nội dung phối hợp trao đổi, cung cấp thông tin. Để công tác phối hợp trao đổi, cung cấp thông tin bảo đảm kịp thời, một số Cục THADS đã ký Quy chế phối hợp liên ngành tại địa phương về việc tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp.   
Trong thời gian qua, các cơ quan THADS đã phối hợp với Sở Tư pháp trong việc cung cấp thông tin như xác nhận kết quả thi hành án (phần dân sự trong bản án hình sự); các Quyết định về thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, án phí và các nghĩa vụ dân sự khác của người bị kết án trong bản án hình sự; Quyết định đình chỉ các khoản phải thi hành án (phần dân sự trong bản án hình sự; Thông báo bằng văn bản về việc người bị kết án đã chấp hành xong nghĩa vụ dân sự trong bản án hình sự. Trong một số trường hợp thông tin lý lịch tư pháp chưa đầy đủ, có sai sót hoặc cần làm rõ để phục vụ việc xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, cơ quan THADS phối hợp xác minh, cung cấp bổ sung hoặc đính chính thông tin để Sở Tư pháp cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho công dân theo quy định. Về cơ bản, công tác phối hợp thực hiện có hiệu quả, bảo đảm đúng thời hạn, đáp ứng yêu cầu.
Tuy nhiên, còn có lúc, có nơi chưa cung cấp kịp thời thông tin theo yêu cầu do một số bất cập về thể chế pháp luật lý lịch tư pháp; Cơ sở dữ liệu điện tử giữa Sở Tư pháp, cơ quan THADS, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan Công an chưa được liên thông; một số bản án khá lâu (vài chục năm) không còn được lưu tại Tòa án, cơ quan THADS nên việc cung cấp thông tin là khó khăn cho việc xóa án tích,…
Bộ Tư pháp ghi nhận kiến nghị của địa phương, tiếp tục nghiên cứu, xem xét có giải pháp phù hợp trong công tác phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an để tháo gỡ những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong công tác phối hợp xác minh, cung cấp thông tin của cơ quan THADS trong thời gian tới.
V. CỤC HỘ TỊCH, QUỐC TỊCH, CHỨNG THỰC
1. Đề nghị Bộ Tư pháp có hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch của con trong trường hợp họ của con không xác định theo họ của cha đẻ, mẹ đẻ (UBND tỉnh Cao Bằng).
Trả lời:          
Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ.  Do đó, nếu khi đăng ký khai sinh, họ của con không theo họ của cha đẻ, mẹ đẻ thì được xác định là có sai sót, không đúng quy định của Bộ luật Dân sự.
Pháp luật hộ tịch đã quy định cụ thể về việc cải chính hộ tịch, nên cơ quan đăng ký hộ tịch chủ động giải quyết việc cải chính họ của trẻ theo quy định pháp luật hộ tịch hiện hành.
2. Đề xuất sửa đổi các quy định pháp luật về chứng thực hợp đồng, giao dịch theo hướng thống nhất trình tự, thủ tục, chứng thực, trách nhiệm, nghĩa vụ của người thực hiện chứng thực với các quy định pháp luật có tính tương quan (công chứng) để đảm bảo độ an toàn của các hợp đồng, giao dịch, hạn chế tranh chấp xảy ra (UBND tỉnh Đồng Nai).
Trả lời:
Công chứng và chứng thực là hai việc khác nhau. Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực và tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch; công chứng viên phải chịu trách nhiệm về nội dung của hợp đồng, giao dịch, chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng của mình, bồi thường thiệt hại do mình gây ra trong quá trình hành nghề công chứng nhằm đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. Chứng thực hợp đồng, giao dịch là việc Phòng Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng giao dịch; người yêu cầu chứng thực phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch. Như vậy, tích chất của hai việc công chứng và chứng thực là khác nhau, trách nhiệm pháp lý của công chứng viên đối với văn bản công chứng khác với trách nhiệm pháp lý của cơ quan thực hiện chứng thực đối với văn bản chứng thực. Do vậy, trình tự, thủ tục chứng thực và công chứng là khác nhau; được điều chỉnh bởi các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau.
3. Hệ thống quản lý thông tin Hộ tịch đã được triển khai từ tháng 12/2016 và đã được nâng cấp, tuy nhiên không thể thực hiện in bản sao cùng lúc với bản chính khi hồ sơ chưa được lưu chính thức gây khó khăn trong quá trình thực hiện thủ tục có ngày hẹn như: Đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài. Vì, ngày, tháng, năm đăng ký kết hôn là ngày hai bên nam, nữ có mặt, ký vào Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn tại cơ quan đăng ký hộ tịch. Nếu lưu chính thức thì Phần mềm sẽ cho số đăng ký, ngày đăng ký tại thời điểm lưu chính thức. Đề nghị Bộ Tư pháp có hướng dẫn cụ thể, để địa phương dễ thực hiện (UBND tỉnh Đồng Tháp).
Trả lời:
Về nguyên tắc, để có thể thực hiện cấp bản sao trích lục hộ tịch (bản sao chứng thực hoặc bản sao từ sổ gốc), trước hết, Cơ quan đăng ký hộ tịch phải hoàn thành việc đăng ký có bản chính hợp lệ giấy tờ hộ tịch. Do đó, để có thể thực hiện cấp bản sao trích lục trên phần mềm, cơ quan đăng ký hộ tịch cần phải hoàn thành việc cập nhật dữ liệu (thực hiện lưu chính thức) sau đó mới có thể thực hiện cấp bản sao trích lục.
Trường hợp người yêu cầu đăng ký kết hôn có yêu cầu cấp Trích lục kết hôn (bản sao), ngay khi thực hiện cấp bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, địa phương có thể lưu tạm thời thông tin đăng ký kết hôn trên phần mềm để cấp Trích lục kết hôn (bản sao), trả đồng thời cho công dân khi hai bên nam nữ có mặt, nhận Giấy chứng nhận kết hôn.
4. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu Chính phủ sửa đổi quy định phải có thỏa thuận bằng văn bản của các bên tham gia khi chứng thực việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch và sửa lỗi sai sót trong hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực nếu không làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của các bên nhằm tạo điều kiện cho người dân thực hiện việc sửa lỗi sai sót trong hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực (UBND tỉnh Gia Lai).
Trả lời:
Việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hay sửa lỗi sai sót trong hợp đồng, giao dịch sẽ dẫn đến việc sửa chữa nội dung của hợp đồng, giao dịch hoặc huỷ bỏ giá trị của hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực. Do vậy, cần có sự thoả thuận, thống nhất của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. Điều 38, Điều 39 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP quy định thoả thuận sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hay sửa lỗi sai sót trong hợp đồng, giao dịch phải thể hiện bằng văn bản nhằm đảm bảo tính an toàn pháp lý của hợp đồng, giao dịch cũng như quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.
- Đối với việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng giao dịch, văn bản thoả thuận giữa các bên tham gia thể hiện bằng chính hợp đồng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực nên không làm phát sinh thêm hồ sơ, giấy tờ khi thực hiện thủ tục chứng thực.
- Đối với việc sửa lỗi sai sót trong hợp đồng, giao dịch: do việc sửa lỗi chỉ thực hiện dưới hình thức người thực hiện chứng thực gạch chân lỗi sai sót cần sửa, đóng dấu của cơ quan thực hiện chứng thực và ghi vào bên lề của hợp đồng, giao dịch nội dung đã sửa, họ tên, chữ ký của người sửa, ngày tháng năm sửa (không thể hiện ý chí của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch đối với việc sửa). Trong khi đó, nhiều nội dung tuy là sửa lỗi sai sót nhưng sẽ ảnh hưởng đến nội dung, quyền, nghĩa vụ của hai bên tham gia giao dịch. Do đó, cần có sự thống nhất bằng văn bản của hai bên để bảo đảm tính an toàn của hợp đồng, giao dịch cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên.
Hồ sơ, cách thức thực hiện các thủ tục này đã được Bộ Tư pháp hướng dẫn, công bố công khai tại các quyết định công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực.
5. Đề nghị Bộ Tư pháp thực hiện công tác đào tạo, tổ chức tập huấn nghiệp vụ về công tác hộ tịch, kiện toàn, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đối với công chức tư pháp hộ tịch; có chỉ đạo thực hiện công tác số hóa hộ tịch thống nhất; hướng dẫn công tác thống kê hộ tịch; hướng dẫn triển khai đăng ký hộ tịch trực tuyến theo Nghị định số 87/NĐ-CP (UBND tỉnh Lâm Đồng).
Trả lời:
- Về việc tổ chức tập huấn nghiệp vụ về công tác hộ tịch: Hàng năm, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực  thường xuyên phối hợp, cử báo cáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy các lớp tập huấn nghiệp vụ tại cơ sở theo đề nghị của Học viện Tư pháp, các Trường Cao đẳng Luật và một số địa phương. Việc tập huấn nghiệp vụ hộ tịch được xác định là nhiệm vụ cần thực hiện thường xuyên của cơ quản lý nhà nước về hộ tịch ở cả Trung ương (Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực) và địa phương (các Sở Tư pháp). Do đó, về phía các địa phương, đề nghị Ủy ban nhân dân chỉ đạo Sở Tư pháp cần chủ động xây dựng kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, bố trí đội ngũ báo cáo viên có đủ năng lực, nếu cần phối hợp, Bộ Tư pháp sẽ cử báo cáo viên tập huấn, bồi dưỡng, cấp chứng chỉ cho công chức làm công tác hộ tịch trên địa bàn theo đúng quy định của Luật hộ tịch.
- Về hướng dẫn công tác số hóa, thống kê hộ tịch: Nhằm hỗ trợ các địa phương trên toàn quốc thực hiện cập nhật đầy đủ dữ liệu hộ tịch từ các Sổ hộ tịch hiện có vào Cơ sở dữ liệu, qua đó, từng bước thiết lập Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc, ngày 25/4/2019, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 1437/BTP-CNTT hướng dẫn các địa phương Số hóa sổ hộ tịch. Bên cạnh đó, thông qua việc triển khai các hoạt động kiểm tra, đánh giá tình hình thi hành Luật hộ tịch và các văn bản quy định chi tiết thi hành; triển khai Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2017 - 2024, Bộ Tư pháp đã lồng ghép việc tập huấn các nghiệp vụ hộ tịch, hướng dẫn việc số hóa sổ hộ tịch và công tác thống kê hộ tịch cho cán bộ tư pháp địa phương, đặc biệt là công chức Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã.
- Về hướng dẫn triển khai đăng ký hộ tịch trực tuyến theo Nghị định số 87/NĐ-CP: Bộ Tư pháp hoàn thiện, ký ban hành Thông tư quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị định số 87/2020/NĐ-CP, sau khi Thông tư được ban hành, Bộ Tư pháp sẽ có văn bản hướng dẫn triển khai cụ thể.
6. Một số khó khăn, vướng mắc của tỉnh Quảng Bình về nghiệp vụ Hộ tịch:
6.1. Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ thì người yêu cầu đăng ký khai sinh phải nộp bản chính Giấy Chứng sinh, quy định này đã gây khó khăn cho quá trình đăng ký khai sinh vì trong thực tế một số trường hợp người dân chỉ cung cấp được bản sao có chứng thực Giấy Chứng sinh còn bản chính Giấy Chứng sinh đã dùng để giải quyết một số chế độ, chính sách cho trẻ hoặc một số lý do khác. Trong trường hợp này, đề nghị chỉ quy định người yêu cầu đăng ký khai sinh phải nộp bản sao Giấy Chứng sinh có chứng thực hoặc nộp bản sao Giấy Chứng sinh đồng thời xuất trình bản chính để đối chiếu cho phù hợp theo quy định tại Điều 3 Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ và Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 20/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng làm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện TTHC.
Trả lời:
Khoản 1 Điều 16 Luật hộ tịch quy định: Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Quy định người yêu cầu phải nộp bản chính Giấy chứng sinh của trẻ khi đăng ký khai sinh nhằm bảo đảm thực hiện triệt để nguyên tắc “mỗi sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký tại một cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền theo quy định”. Do đó, khi thực hiện đăng ký khai sinh, người yêu cầu phải nộp bản chính Giấy chứng sinh của trẻ.
6.2. Theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Luật Hộ tịch thì thời gian thực hiện TTHC về đăng ký khai sinh của công dân Việt Nam có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện thì phải được giải quyết ngay trong ngày, trường hợp nhận hồ sơ sau 15 giờ mà không giải quyết được ngay thì trả kết quả trong ngày làm việc tiếp theo. Quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho công dân nhưng cũng gây khó khăn trong quá trình thực hiện vì nhiều trường hợp nộp hồ sơ rất muộn (sau 14h hàng ngày), đồng thời, UBND cấp huyện đang thực hiện cơ chế Một cửa liên thông hồ sơ qua nhiều khâu giải quyết nên về thời gian thực hiện trong ngày là khó khả thi.
Trả lời:
Theo quy định của Luật hộ tịch, hồ sơ đăng ký khai sinh được giải quyết trong ngày làm việc (trừ trường hợp phải kiểm tra, xác minh), vì hồ sơ đăng ký khai sinh thông thường là đơn giản, đặc biệt là khi có thể tra cứu thông tin trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử. Quy định này hoàn toàn khả thi, hầu hết các địa phương đã và đang thực hiện tốt, do đó, tỉnh Quảng Bình cần kiểm tra lại cơ chế một cửa liên thông trên địa bàn tỉnh để có sự điều chỉnh, bảo đảm thực hiện đúng quy định của Luật hộ tịch.
6.3. Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư số 15/2015/TT-BTP về việc đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra ở nước ngoài, có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam hoặc cha và mẹ đều là công dân Việt Nam, chưa được đăng ký khai sinh ở nước ngoài, về cư trú tại Việt Nam thì phải nộp các giấy tờ chứng minh việc trẻ em đã nhập cảnh vào Việt Nam (như: Hộ chiếu, giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế có dấu xác nhận nhập cảnh của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh và văn bản xác nhận của cơ quan công an có thẩm quyền về việc trẻ em đang cư trú tại Việt Nam). Tuy nhiên, có một số trường hợp trẻ em sinh ra ở nước ngoài tại các nước láng giềng như Lào… khi bố, mẹ đưa con về cư trú tại Việt Nam thường không thực hiện các nguyên tắc, thủ tục theo quy định về xuất nhập cảnh để xin hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế mà đưa con về cư trú tại Việt Nam theo đường dân sinh, do đó khi đăng ký khai sinh cho con không có các giấy tờ chứng minh trẻ em đã nhập cảnh vào Việt Nam nên gặp nhiều khó khăn.
Trả lời:
- Hiện tại, Thông tư số 15/2015/TT-BTP đã được thay thế bằng Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020, có hiệu lực từ ngày 15/7/2020, đề nghị Sở Tư pháp chủ động cập nhật văn bản, tránh áp dụng văn bản đã hết hiệu lực pháp luật.
- Về việc đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra ở nước ngoài về Việt Nam cư trú, nhưng không có đầy đủ các giấy tờ theo quy định của Luật hộ tịch và các văn bản quy định chi tiết thi hành, để bảo đảm quyền lợi của trẻ em, Bộ Tư pháp đã có chỉ đạo Sở Tư pháp phối hợp với cơ quan Công an có thẩm quyền kiểm tra, xác minh, làm rõ thông tin về nhân thân; quá trình nhập cảnh vào Việt Nam và cư trú tại địa phương của trẻ, sau đó, hướng dẫn cơ quan đăng ký hộ tịch nơi trẻ cư trú thực hiện đăng ký khai sinh tùy theo từng trường hợp cụ thể (Sở Tư pháp cần gửi Công văn kèm theo hồ sơ, tài liệu cụ thể để Bộ Tư pháp có cơ sở hướng dẫn).
6.4. Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định công dân được cấp lại bản chính giấy khai sinh. Qua thực tế, quy định này gây khó khăn cho công dân, bởi vì, một số cơ quan, đơn vị vẫn yêu cầu có bản chính để đối chiếu. Mặt khác tâm lý của người dân luôn muốn có bản chính giấy khai sinh, do đó nhu cầu cấp lại bản chính giấy khai sinh của người dân là rất cần thiết.
Trả lời:
Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc, có ý nghĩa quan trọng, nên mỗi cá nhân có trách nhiệm bảo quản và giữ gìn để sử dụng sau này.
Trước đây, do yếu tố lịch sử (hệ quả của chiến tranh, thiên tai), nhiều người dân không bảo quản được Giấy khai sinh (bản chính) nên Nghị định số 158/2005/NĐ-CP có quy định thủ tục cấp lại bản chính Giấy khai sinh để tạo thuận lợi cho người dân có được giấy tờ hộ tịch quan trọng này. Tuy nhiên, việc thực hiện quy định trên cũng đã tạo ra tâm lý không coi trọng, giữ gìn Giấy khai sinh (vì cho rằng mất sẽ được cấp lại), nhiều trường hợp xin cấp lại nhiều lần, có trường hợp không mất cũng xin cấp lại, dẫn đến việc một người có nhiều bản chính Giấy khai sinh.
Theo quy định của Luật hộ tịch, sau khi Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc được đưa vào vận hành thì người dân có thể làm thủ tục cấp Giấy khai sinh (bản sao) ở bất kỳ cơ quan đăng ký hộ tịch, cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử nào, không phụ thuộc vào nơi đăng ký khai sinh trước đây và nơi cư trú; thời gian giải quyết sẽ được thực hiện nhanh chóng, thuận lợi. Giấy khai sinh (bản sao) có giá trị tương đương Giấy khai sinh bản chính và sẽ có đầy đủ các thông tin cập nhật nhất (bao gồm các thông tin được điều chỉnh do thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc của chính người được đăng ký khai sinh và cha, mẹ; thông tin thay đổi về quốc tịch (nếu có)). 
Do vậy, để khẳng định giá trị của Giấy khai sinh, nâng cao ý thức của người dân đối với giấy tờ hộ tịch, hạn chế các tồn tại trong việc cấp, quản lý, sử dụng Giấy khai sinh, Luật hộ tịch, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch đã không quy định thủ tục cấp lại bản chính Giấy khai sinh.
6.5. Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Luật Hộ tịch: “Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay thế giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch”. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì quy định Bộ Y tế hướng dẫn các cơ sở y tế thực hiện việc cấp giấy chứng sinh, giấy báo tử. Tuy nhiên, hiện tại chưa có văn bản quy định cụ thể về mẫu giấy báo tử nên gây lúng túng cho UBND cấp xã trong việc thực hiện cấp giấy báo tử cho người chết trên địa bàn.
Trả lời:
Đối với việc cấp Giấy Báo tử cho người chết ngoài cơ sở y tế, Bộ Tư pháp đang xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định số 87/2020/NĐ-CP trong đó dự kiến ban hành kèm theo mẫu Giấy báo tử.
Để giảm bớt thủ tục hành chính liên quan đến việc cấp Giấy báo tử, Thông tư số 04/2020/TT-BTP cũng đã có quy định “Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền đăng ký khai tử đồng thời có trách nhiệm cấp Giấy báo tử thì không thực hiện cấp Giấy báo tử”.
 Đồng thời, Bộ Tư pháp đã chỉ đạo Sở Tư pháp hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã không thuộc địa bàn cấp xã (nơi cư trú cuối cùng) của ngươi chết cấp giấy báo tử, trong đó ghi rõ các thông tin: họ, chữ đệm, tên, năm sinh của người chết; số định danh cá nhân của người chết (nếu có); nơi chết; nguyên nhân chết; giờ, ngày, tháng, năm chết (theo Dương lịch); quốc tịch của người chết.
6.6. Theo quy định tại Điều 26 Luật Hộ tịch năm 2014 thì phạm vi thay đổi hộ tịch bao gồm: “Thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự; thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký sau khi được nhận làm con nuôi theo quy định của Luật Nuôi con nuôi”. Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Hộ tịch thì những thông tin mà cha, mẹ thỏa thuận lựa chọn cho con khi đăng ký khai sinh như họ, chữ đệm, tên, dân tộc thì pháp luật đều có quy định cho phép thay đổi/xác định lại trừ thông tin về quốc tịch chỉ có thể thay đổi theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam. Trong khi đó, thông tin về quê quán cũng là một trong những thông tin cá nhân mà Luật Hộ tịch cho phép cha, mẹ được thỏa thuận lựa chọn cho con khi đăng ký khai sinh nhưng Bộ luật Dân sự và Luật Hộ tịch không có quy định cho phép thay đổi, điều này là chưa hợp lý, chưa bảo đảm quyền, lợi ích của người dân. Do đó, đối với trường hợp người dân có yêu cầu thay đổi quê quán từ quê quán của mẹ sang quê quán của cha hoặc ngược lại hoặc con ngoài giá thú đăng ký khai sinh xác định theo quê quán của mẹ, nay cha nhận con, muốn thay đổi quê quán của con theo quê quán của cha, thì cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết.
Trả lời:
Khoản 1, khoản 2 Điều 26 Luật hộ tịch đã quy định phạm vi thay đổi hộ tịch chỉ gồm: “1. Thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự; 2. Thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký sau khi được nhận làm con nuôi theo quy định của Luật nuôi con nuôi”, phạm vi thay đổi hộ tịch không bao gồm việc thay đổi quê quán. Do đó, Thông tư số 04/2020/TT-BTP không có quy định hướng dẫn về vấn đề thay đổi quê quán.
Liên quan đến vấn đề cả i chính quê quán, theo quy định tại khoản 12 Điều 4 Luật hộ tịch thì trong trường hợp phần khai về quê quán (nếu có) khi đăng ký hộ tịch mà có sai sót thì cá nhân có quyền đề nghị cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền thực hiện việc cải chính.
Do đó, đối với trường hợp thông tin về mục quê quán (nếu có) được xác định đúng theo quy định của pháp luật tại thời điểm đăng ký khai sinh thì không có cơ sở để thực hiện việc thay đổi hoặc cải chính.
6.7. Pháp luật về hộ tịch chưa có quy định về việc giải quyết yêu cầu cải chính thông tin trong giấy tờ hộ tịch của người chết. Thực tiễn hiện nay, trong nhiều quan hệ dân sự, đặc biệt là trong việc phân chia di sản thừa kế, nhiều người dân gặp khó khăn khi thông tin trên giấy tờ hộ tịch của người chết, người để lại di sản thừa kế có “sai lệch” so với các giấy tờ, hồ sơ cá nhân và giấy tờ liên quan đến tài sản, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định tài sản của người để lại di sản thừa kế cũng như quyền lợi của những người có liên quan như vợ, chồng, con, cha, mẹ đẻ.

Trả lời:
Theo quy định của Luật hộ tịch và văn bản hướng dẫn thi hành (khoản 1 Điều 3, khoản 2 Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP) thì người yêu cầu giải quyết các việc hộ tịch (trong đó có yêu cầu cải chính hộ tịch) phải trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện thay.
Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi của người dân trong các quan hệ dân sự, nhất là quyền thừa kế, Bộ Tư pháp đã chỉ đạo Sở Tư pháp hướng dẫn cơ quan đăng ký hộ tịch yêu cầu đương sự (người thân thích của người chết) cung cấp toàn bộ hồ sơ, giấy tờ cần thiết có liên quan; chủ động xác minh, nếu có đủ cơ sở thì báo cáo Sở Tư pháp cho ý kiến giải quyết đối với từng trường hợp cụ thể.

6.8. Theo quy định tại Điều 37 Bộ Luật Dân sự năm 2015 thì việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật, cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Nhưng hiện nay Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05/8/2008 của Chính phủ không quy định việc chuyển đổi giới tính mà chỉ quy định việc xác định lại giới tính đối với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác nên chưa có cơ sở pháp lý để công nhận và thực hiện việc chuyển đổi giới tính và đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định. Do đó, trên thực tế những yêu cầu thay đổi hộ tịch cho người chuyển đổi giới tính chưa có cơ sở pháp lý để giải quyết.
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phů hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”. Như vậy, việc chuyển đổi giới tính phải được thực hiện theo quy định của luật. Luật chuyển đổi giới tính đã được giao cho Bộ Y tế tham mưu Chính phủ xây dựng trình Quốc hội nhưng chưa được ban hành, nên chưa có cơ sở pháp lý để thực hiện việc thay đổi hộ tịch đối với những trường hợp này.
6.9. Hiện nay rất nhiều trường hợp thông tin trong Giấy tờ hộ tịch và Sổ Hộ tịch có sự sai lệnh, không trùng khớp, việc này đã gây khó khăn cho công chức tư pháp hộ tịch và công dân trong việc thống nhất thông tin trong các loại giấy tờ tùy thân. Trường hợp này, Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định cụ thể phải căn cứ vào Sổ hộ tịch hay Giấy tờ hộ tịch để làm căn cứ cải chính, điều chỉnh.
Trả lời:
Điều 6 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định: 1. Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của cá nhân; 2. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung về họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó; 3. Trường hợp nội dung trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác với nội dung trong Giấy khai sinh của người đó thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức quản lý hồ sơ hoặc cấp giấy tờ có trách nhiệm điều chỉnh hồ sơ, giấy tờ theo đúng nội dung trong Giấy khai sinh. Do vậy, trường hợp nội dung trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác với Giấy khai sinh thì thực hiện điều chỉnh theo Giấy khai sinh.
Trường hợp thông tin trong giấy tờ hộ tịch và Sổ hộ tịch không thống nhất, có sự khác nhau, cơ quan đăng ký hộ tịch cần chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan kiểm tra, xác minh để xác định thông tin hộ tịch trong Giấy tờ hộ tịch hay trong Sổ đăng ký hộ tịch là đúng, chính xác để làm căn cứ thực hiện cải chính hộ tịch.
6.10. Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định việc đăng ký lại khai sinh trong trường hợp việc khai sinh đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam sau ngày 01/01/2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất. Trường hợp này đã xảy rất nhiều trên thực tế, nhất là đối với địa bàn các tỉnh miền Trung thường xảy ra thiên tai, lũ lụt.
Trả lời:
Ghi nhận kiến nghị của địa phương, trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tổng hợp và đề xuất Chính phủ sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến việc đăng ký lại khai sinh tại Điều 24 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP.
7. Đề nghị Bộ Tư pháp (Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực) nghiên cứu, đề xuất sửa đổi biểu mẫu hộ tịch và quy định lại cách ghi “Nơi sinh” trong sổ đăng ký khai sinh cũng như giấy khai sinh cho phù hợp với tình hình thực tế (UBND tỉnh Quảng Trị).
Trả lời:
Cách ghi Giấy khai sinh, Sổ đăng ký khai sinh (trong đó có cách ghi về Nơi sinh) đã được quy định cụ thể tại Điều 31 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020, đề nghị cơ quan đăng ký hộ tịch chủ động nghiên cứu, thực hiện thống nhất.
Kiến nghị nêu trên chưa rõ nội dung vướng mắc nên Bộ Tư pháp không thể hướng dẫn cụ thể.

8. Đề nghị Bộ Tư pháp kiến nghị Chính phủ xem xét, có kế hoạch hỗ trợ kinh phí cho tỉnh để thực hiện tốt công tác an sinh xã hội và đất đai canh tác cho những người được nhập quốc tịch Việt Nam theo Thỏa thuận giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam với Chính phủ nước CHDCND Lào (UBND tỉnh Quảng Trị).
Trả lời:
Nội dung này đã được Bộ Tư pháp trả lời tại Công văn số 492/HTQTCT-VP ngày 19/12/2019, cụ thể như sau: Vấn đề an sinh xã hội không thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp. Vì vậy, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị kiến nghị với Bộ, ngành chủ quản để có giải pháp kịp thời.
9. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Công an có văn bản hướng dẫn cụ thể đối với những trường hợp thu hồi hộ khẩu theo quy định của Luật Cư trú năm 2020 để người dân có thể thực hiện các thủ tục hành chính khi có nhu cầu (UBND tỉnh Sóc Trăng).
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ: “Trong giai đoạn chuyển tiếp, người yêu cầu đăng ký hộ tịch phải xuất trình giấy tờ chứng minh nơi cư trú”, đồng thời theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật cư trú thì trước ngày 01/01/2023, Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú vẫn được sử dụng nên các thủ tục hành chính yêu cầu phải nộp/xuất trình loại giấy tờ này vẫn được thực hiện theo quy định hiện hành.
Đối với các trường hợp người dân bị thu hồi Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú trước ngày 01/01/2023 do thực hiện thay đổi thông tin về cư trú, theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Thông tư số 55/2021/TT-BCA ngày 15/5/2021 của Bộ Công an quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật cư trú thì: “Công dân yêu cầu xác nhận thông tin về cư trú có thể trực tiếp đến cơ quan đăng ký cư trú trong cả nước không phụ thuộc vào nơi cư trú của công dân để đề nghị cấp xác nhận thông tin về cư trú hoặc gửi yêu cầu xác nhận thông tin về cư trú qua Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công Bộ Công an, Cổng dịch vụ công quản lý cư trú”, do đó, trường hợp người dân không còn Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú thì cơ quan đăng ký hộ tịch hướng dẫn người dân xuất trình loại giấy tờ này để xác định thẩm quyền đăng ký hộ tịch và thay thế cho Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú.

VI. CỤC BỔ TRỢ TƯ PHÁP
1. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với cơ quan có liên quan có chính sách hỗ trợ các tổ chức, cá nhân hành nghề trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp trong tình hình dịch bệnh Covid-19, tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 của Chính phủ về tư vấn pháp luật (UBND tỉnh An Giang).
Trả lời:
Về vấn đề này, ngày 27/9/2021, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 3344/BTP-BTTP gửi Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để đề nghị hướng dẫn, tạo điều kiện cho luật sư trong quá trình tham gia các hoạt động tố tụng (về thời hạn thông báo, yêu cầu cụ thể về kết quả xét nghiệm Covid, về bố trí lịch xét xử phù hợp...) và Công văn số 3343/BTP-BTTP gửi Bộ Tài chính đề nghị hướng dẫn cụ thể về thanh toán chi phí phát sinh do dịch bệnh Covid-19 đối với luật sư khi tham gia các hoạt động tố tụng theo yêu cầu của Cơ quan tiến hành tố tụng. Ghi nhận ý kiến của địa phương, trong thời gian tới Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với các Bộ, ngành để tháo gỡ các vướng mắc.
Liên quan đến Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 của Chính phủ về tư vấn pháp luật, thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với các tổ chức đoàn thể cấp Trung ương và các địa phương đánh giá tổng kết tình hình thực hiện Nghị định số 77/2008/NĐ-CP, nghiên cứu định hướng xây dựng Nghị định thay thế. Trên cơ sở tổng hợp ý kiến của cơ quan, tổ chức, địa phương, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu, đề xuất Chính phủ sửa đổi, hoàn thiện quy định về tổ chức và hoạt động tư vấn pháp luật để phù hợp với thực tiễn.
2. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm tổng kết các Luật Công chứng, Luật Luật sư, Đề án phát triển đội ngũ đấu giá viên... để tìm ra các nguyên nhân và thảo luận các giải pháp tháo gỡ khó khăn, bất cập. Trên cơ sở đó, kiến nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung các Luật trên cho phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và thực tiễn phát triển của các nghề, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế (UBND tỉnh An Giang).
Trả lời:
Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tổ chức tổng kết việc thực hiện Luật công chứng năm 2014 và chuẩn bị tổ chức Hội nghị tổng kết Luật; Báo cáo tổng kết Đề án “Phát triển và tăng cường năng lực đội ngũ đấu giá viên giai đoạn 2013 - 2015, định hướng đến năm 2020”. Đồng thời, đã đề xuất đưa việc sửa đổi Luật Công chứng năm 2014 trong khoảng thời gian năm 2022 - 2024, sửa đổi Luật Luật sư năm 2012 trong khoảng thời gian 2023 - 2025. Trong quá trình nghiên cứu xây dựng sửa đổi các văn bản Luật nêu trên, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục tổng hợp các kiến nghị, khó khăn, vướng mắc để báo cáo cấp có thẩm quyền.
3. Đề nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu, xây dựng phần mềm dùng chung để hỗ trợ, cung cấp cho các địa phương thực hiện quản lý thống nhất công tác này trên toàn quốc trong việc tiếp nhận thông tin và duyệt nội dung Vi bằng, tài liệu chứng minh (nếu có) từ các Văn phòng Thừa phát lại được cập nhật trên Phần mềm cơ sở dữ liệu về vi bằng, còn bản giấy Vi bằng do các Văn phòng Thừa phát lại lưu trữ tại trụ sở của Văn phòng theo quy định (UBND tỉnh Bình Thuận).
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 39, điểm đ khoản 2 Điều 68 của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thì Sở Tư pháp có trách nhiệm xây dựng cơ sở dữ liệu về vi bằng tại địa phương. Bộ Tư pháp đề nghị Sở Tư pháp nghiên cứu thực hiện theo thẩm quyền, trách nhiệm đã được giao.
Để hỗ trợ các Sở Tư pháp thực hiện nhiệm vụ này một cách thuận lợi, thống nhất, Bộ Tư pháp đã quy định hướng dẫn về cơ sở dữ liệu về vi bằng trong Thông tư số 05/2020/TT-BTP của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP (Điều 31). Tuy nhiên, trên cơ sở ý kiến của địa phương, Bộ Tư pháp tiếp tục nghiên cứu, xem xét việc xây dựng phần mềm chung về cơ sở dữ liệu vi bằng.

4. Đề nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu, ban hành Thông tư quy định cho phép Sở Tư pháp có thẩm quyền từ chối vào sổ đăng ký vi bằng đối với những vi bằng được lập chưa đúng thẩm quyền, phạm vi theo quy định tại Điều 36, Điều 37 và hình thức, nội dung theo quy định tại Điều 40 Nghị định 08/2020/NĐ-CP (UBND tỉnh Bình Thuận).
Trả lời:
Về vấn đề này, trước đây theo quy định của Nghị định số 135/2013/NĐ-CP thì Sở Tư pháp có quyền từ chối đăng ký nếu phát hiện thấy việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền, không thuộc phạm vi lập vi bằng, vi bằng không được gửi đúng thời hạn để đăng ký theo quy định. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quy định này đã phát sinh khó khăn cho Sở Tư pháp trong việc đăng ký vi bằng, về trách nhiệm của Sở Tư pháp khi đăng ký hoặc từ chối đăng ký vi bằng và xung đột giữa Sở Tư pháp với Văn phòng Thừa phát lại khi từ chối đăng ký vi bằng...  Do đó, các Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã nhiều lần kiến nghị sửa đổi quy định này.
Trên cơ sở đó, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và Thông tư số 05/2020/TT-BTP đã bỏ quy định Sở Tư pháp có thẩm quyền từ chối đăng ký vi bằng. Thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại chịu trách nhiệm trước người yêu cầu lập vi bằng, trước pháp luật về nội dung, hình thức vi bằng đã lập; trường hợp phát hiện vi bằng, tài liệu chứng minh vi phạm quy định của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP thì Sở Tư pháp tiến hành xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
5. Đề nghị Bộ Tư pháp quan tâm sớm có văn bản hướng dẫn đối với việc thực hiện quy định tại Điều 18 Thông tư số 01/2021/TT-BTP ngày 03/02/2021 của Bộ Tư pháp để thực hiện thống nhất; đồng thời, tập huấn nội dung Thông tư số 01/2021/TT-BTP ngày 03/02/2021 của Bộ Tư pháp để Sở Tư pháp, các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên triển khai thực hiện theo đúng quy định (UBND tỉnh Bình Thuận)
Đề nghị Bộ Tư pháp có văn bản quy định cụ thể về việc chấm dứt tư cách công chứng viên hợp danh đối với các Văn phòng công chứng, tránh tình trạng các Văn phòng thường xuyên có sự thay đổi công chứng viên hợp danh hoặc chỉ còn 01 công chứng viên hành nghề (UBND tỉnh Cao Bằng).
Trả lời:
Việc chấm dứt tư cách thành viên hợp danh của Văn phòng công chứng đã được hướng dẫn cụ thể tại Điều 18 của Thông tư số 01/2021/TT-BTP, theo đó quy định chi tiết đối với trường hợp chấm dứt theo nguyện vọng, các trường hợp khác được thực hiện theo quy định tại Điều 185 của Luật Doanh nghiệp. Bộ Tư pháp đề nghị Sở Tư pháp địa phương nghiên cứu, thực hiện theo thẩm quyền.
Liên quan đến việc tập huấn Thông tư số 01/2021/TT-BTP, Bộ Tư pháp đã có kế hoạch tập huấn cho Sở Tư pháp các địa phương và công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, tuy nhiên, do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp nên chưa tổ chức được theo kế hoạch.

6. Đề nghị Bộ Tư pháp đôn đốc các Bộ, ngành chuyên môn nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định cho phù hợp, đồng bộ với quy định Luật Giám định tư pháp; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp và các văn bản có liên quan (UBND tỉnh Cà Mau).
 Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng bộ tài liệu tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật chuyên sâu đối với từng ngành, lĩnh vực giám định tư pháp. Đồng thời, phối hợp với các ngành của Trung ương sớm tham mưu hoàn thiện thể chế về giám định tư pháp theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp nhằm tạo sự thống nhất, đồng bộ trong việc thực hiện các quy định pháp luật về lĩnh vực giám định tư pháp (UBND tỉnh Đồng Nai).
Trả lời:
- Theo quy định tại Điều 41 Luật Giám định tư pháp năm 2012, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp năm 2020 thì Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý chuyên môn về lĩnh vực giám định tư pháp có nhiệm vụ ban hành quy trình giám định; ban hành hoặc hướng dẫn áp dụng quy chuẩn chuyên môn cho hoạt động giám định tư pháp theo yêu cầu và đặc thù của từng lĩnh vực giám định thuộc thẩm quyền quản lý; ban hành về mẫu hồ sơ, thành phần hồ sơ và chế độ lưu trữ hồ sơ giám định từng loại việc giám định... Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp ban hành kèm theo Quyết định số 1450/QĐ-TTg ngày 24/9/2020 của Thủ tướng Chính phủ đã giao nhiệm vụ cụ thể các Bộ, cơ quan ngang Bộ sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới quy định chi tiết. Hiện nay, theo thông tin Bộ tư pháp nắm được thì một số Bộ, cơ quan ngang bộ đã ban hành Thông tư hướng dẫn các nội dung nêu trên, một số bộ, cơ quan ngang bộ đang nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Thông tư cho đồng bộ với quy định của Luật Giám định tư pháp, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp và các văn bản có liên quan. Trong thời gian tới Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Thực hiện Luật Giám định tư pháp 2012 Bộ Tư pháp đã xây dựng, ban hành Bộ Tài liệu bồi dưỡng kiến thức pháp lý về giám định tư pháp theo Quyết định số 19/QĐ-BTTP ngày 12/4/2021. Đây là tài liệu để các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp lý cho người giám định tư pháp thuộc thẩm quyền quản lý. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang chỉnh lý, hoàn thiện Bộ Tài liệu này cho phù hợp với quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp, dự kiến ban hành trong tháng 12/2021. Thực tiễn, trong nhiều năm qua Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ tiến hành tập huấn kiến thức pháp lý chung, kiến thức pháp lý và nghiệp vụ giám định chuyên sâu đối với từng ngành, lĩnh vực giám định tư pháp. Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp, đôn đốc các Bộ, cơ quan ngang Bộ sớm ban hành tài liệu bồi dưỡng kiến thức pháp lý chuyên sâu phù hợp đối với từng ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ.

7. Đề nghị Bộ Tư pháp có văn bản hướng dẫn việc thu phí khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu công chứng, chứng thực hoặc mức đóng góp đối với các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên theo quy định tại khoản 3 Điều 23 Thông tư số 01/2021/TT-BTP ngày 03/02/2021 của Bộ Tư pháp để đảm bảo kinh phí vận hành, bảo dưỡng, duy trì nâng cấp Cơ sở dữ liệu, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách địa phương (UBND tỉnh Cao Bằng).
Trả lời:
Luật Công chứng năm 2014 (Điều 62) giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng của địa phương và ban hành quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng. Thực hiện quy định này, nhiều địa phương đã xây dựng cơ sở dữ liệu về công chứng tại địa phương và đã phát huy được vai trò, hiệu quả đối với hoạt động công chứng cũng như bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng giao dịch.
Hướng dẫn quy định này, khoản 3 Điều 23 của Thông tư số 01/2021/TT-BTP đã hướng dẫn về nguồn kinh phí xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng, theo đó, kinh phí xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng được bố trí từ nguồn ngân sách địa phương, đóng góp của các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên và các nguồn kinh phí xã hội hóa khác. Mức chi phí cụ thể khi xây dựng cũng như khai thác, sử dụng, Bộ Tư pháp đề nghị Ủy ban nhân dân căn cứ thực tiễn tại địa phương nghiên cứu thực hiện theo thẩm quyền.

8. Đề nghị Bộ Tư pháp tăng cường tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các quy định của pháp luật về công chứng, nhất là các quy định về việc công chứng các văn bản có liên quan đến việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất, nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa của hoạt động công chứng đối với sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội (UBND tp. Cần Thơ).
Trả lời:
Tuyên truyền, phổ biến Luật Công chứng là một nhiệm vụ trong Kế hoạch triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014 (kèm theo Kế hoạch số 2250/QĐ-BTP ngày 01 tháng 10 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp), theo đó, ở Trung ương là Bộ Tư pháp, ở địa phương là Sở Tư pháp được giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ này. 
Về phía Bộ Tư pháp, ngay sau khi Quốc hội ban hành Luật Công chứng năm 2014, Bộ đã phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, trong đó có các cơ quan, đơn vị truyền thông tuyên truyền, giới thiệu, quán triệt các nội dung của Luật. Hàng năm, Bộ Tư pháp cũng kết hợp giới thiệu, quán triệt những nội dung mới của pháp luật về công chứng thông qua các hội thảo, tọa đàm… Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp tiếp tục nghiên cứu, triển khai các hoạt động tuyên truyền về nội dung này.
Về phía địa phương, Bộ Tư pháp đề nghị Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Sở, ban, ngành có liên quan thực hiện nhiệm vụ được giao theo Kế hoạch triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014.

9. Đề nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan kiến nghị Quốc hội sửa đổi các quy định còn bất cập giữa Luật Công chứng với Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở… Đồng thời, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Công chứng nhằm thống nhất các quy định liên quan đến vấn đề thừa kế, xác định tài sản riêng, chung của vợ chồng, tài sản thuộc sở hữu của hộ gia đình,... góp phần tháo gỡ những vướng mắc của địa phương trong việc công chứng hợp đồng, giao dịch, tạo hành lang pháp lý an toàn cho công chứng viên khi hành nghề, nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng trong cả nước (UBND tp. Đà Nẵng).
Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu Chính phủ sớm trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Công chứng năm 2014 theo hướng quy định chặt chẽ hơn về điều kiện thành lập Văn phòng công chứng, điều kiện về công chứng viên, tập sự hành nghề công chứng…; về thời gian đào tạo nghề công chứng cho những người được miễn đào tạo nghề công chứng (có thể giảm thời gian đào tạo bằng 1/2 thời gian đào tạo nghề công chứng theo quy định hiện hành); liên quan đến công chứng bản dịch, công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp hai bên không thể cùng đến một TCHNCC; quy định về sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch (UBND tp. Đà Nẵng).
 Trả lời:
Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tổ chức tổng kết việc thực hiện Luật Công chứng, trong đó sẽ tổ chức Hội nghị tổng kết Luật và đã đề xuất đưa việc sửa đổi Luật này trong khoảng thời gian năm 2022-2024. Các vấn đề địa phương vướng mắc, kiến nghị đã và đang được Bộ Tư pháp tổng hợp, đánh giá và có phương án sửa đổi, bổ sung phù hợp để báo cáo Chính phủ, Quốc hội.
Đối với các quy định còn bất cập giữa Luật Công chứng với Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở…, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan thực hiện việc rà soát để kiến nghị sửa đổi, bổ sung bảo đảm thống nhất, phù hợp.

10. Đề nghị Bộ Tư pháp rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư theo hướng bổ sung trách nhiệm báo cáo tình hình tổ chức, hoạt động của chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư cho Sở Tư pháp nơi chi nhánh đặt trụ sở; hướng dẫn cụ thể về hình thức hành nghề của luật sư, về cách thức thực hiện thu hồi Giấy đăng ký hoạt động trong trường hợp tổ chức hành nghề luật sư, chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư không hoạt động liên tục tại trụ sở đã đăng ký trong thời hạn 06 tháng; rà soát, bổ sung các thủ tục hành chính liên quan đến việc chuyển đổi công ty luật trách nhiệm hữu hạn và công ty luật hợp danh, chuyển đổi văn phòng luật sư thành công ty luật, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư... (UBND tp. Đà Nẵng).
Trả lời:
Bộ Tư pháp ghi nhận kiến nghị này của địa phương. Hiện nay, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 05/2021/TT-BTP hướng dẫn một thi hành một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư, Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/8/2021); trong đó có quy định tại Điều 23, Điều 24 và Điều 25 về chế độ báo cáo, nội dung báo cáo của tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam, trường hợp có chi nhánh đặt tại địa phương khác thì tổ chức hành nghề luật sư phải gửi báo cáo về tổ chức, hoạt động của chi nhánh cho Sở Tư pháp địa phương nơi có trụ sở của chi nhánh theo mẫu TP-LS-33 ban hành kèm theo Thông tư này.
Thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với các Bộ, ngành, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các địa phương đánh giá tổng kết việc thi hành Luật Luật sư và nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Luật sư cho phù hợp với tình hình thực tiễn, trong đó quan tâm rà soát, đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến tổ chức, hoạt động luật sư.
11. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu sửa đổi, bổ sung Luật Đấu giá tài sản theo hướng quy định rõ những nhiệm vụ của cơ quan quản lý như: trình tự, thủ tục hủy hợp đồng ĐGTS và quy định cụ thể cơ quan thẩm quyền hủy kết quả ĐGTS tại Điều 72 Luật ĐGTS; về các trường hợp tạm dừng cuộc đấu giá…:
“Về việc hủy kết quả ĐGTS: Điều 72 Luật ĐGTS quy định về các trường hợp hủy kết quả ĐGTS. Tuy nhiên, các trường hợp hủy kết quả đấu giá tại Điều 72 còn chung chung, chưa đảm bảo tính bao quát và dễ phát sinh việc bỏ sót, không xử lý được các hành vi vi phạm pháp luật về ĐGTS trên thực tế. Bên cạnh đó, Luật ĐGTS chưa quy định cụ thể về thẩm quyền hủy kết quả đấu giá trong một số trường hợp nên gây khó khăn trong việc áp dụng trên thực tế. Cụ thể:
Khoản 2 Điều 72 Luật ĐGTS quy định kết quả đấu giá bị hủy khi: “Hợp đồng dịch vụ ĐGTS, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định của pháp luật về dân sự trong trường hợp người trúng đấu giá có hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 5 Điều 9”. Như vậy, chỉ khi người trúng đấu giá có hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 5 Điều 9 Luật ĐGTS mà hợp đồng dịch vụ ĐGTS, hợp đồng mua bán tài sản bị Tòa án tuyên bố vô hiệu thì kết quả đấu giá mới bị hủy. Tuy nhiên, quy định này có nhiều bất cập trên thực tế, bởi lẽ nếu người trúng đấu giá không có hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 5 Điều 9 của Luật thì Tòa án không thể tuyên hợp đồng dịch vụ ĐGTS, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá vô hiệu. Trong khi đó, khoản 2 Điều 46 Luật ĐGTS quy định: “Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự” và khoản 3 Điều 46 quy định: “Người trúng đấu giá được coi như chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá kể từ thời điểm đấu giá viên công bố người trúng đấu giá... Kể từ thời điểm này, quyền và nghĩa vụ của các bên được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan”. Như vậy, đối với những trường hợp hợp đồng bị vô hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 mà không thuộc trường hợp người trúng đấu giá có hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 5 Điều 9 của Luật ĐGTS thì xử lý như thế nào. Trường hợp này Tòa án có được tuyên Hợp đồng dịch vụ ĐGTS, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá vô hiệu hay không. Trong khi đó, về nguyên tắc, sau khi ký kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá thì các bên đã thực hiện quan hệ giao dịch dân sự, nếu hợp đồng, giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự thì được Tòa án tuyên vô hiệu. Tuy nhiên, với cách quy định tại khoản 2 Điều 72 Luật ĐGTS sẽ vô tình hạn chế các trường hợp hủy kết quả đấu giá đối với các trường hợp Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng, giao dịch dân sự. Do đó, đề nghị sửa đổi khoản 2 Điều 72 Luật ĐGTS theo hướng: “Hợp đồng dịch vụ ĐGTS, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định của pháp luật về dân sự” để đảm bảo bao quát các trường hợp xảy ra trên thực tế và thống nhất, phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015.
Khoản 3 Điều 72 quy định: “Hợp đồng dịch vụ ĐGTS bị hủy bỏ theo quy định tại khoản 6 Điều 33” và khoản 4 Điều 72 quy định: “Người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, tổ chức ĐGTS, đấu giá viên có hành vi thông đồng, móc nối, dìm giá trong quá trình tham gia đấu giá dẫn đến làm sai lệch thông tin tài sản đấu giá hoặc hồ sơ tham gia đấu giá hoặc kết quả ĐGTS”. Tuy nhiên, Luật ĐGTS chưa quy định rõ cơ quan nào có thẩm quyền hủy kết quả ĐGTS trong các trường hợp trên gây khó khăn trong quá trình áp dụng trên thực tế. Bởi lẽ, hiện nay liên quan đến việc ĐGTS đang còn có nhiều cách hiểu khác nhau về mối quan hệ hành chính hay quan hệ dân sự trong từng giai đoạn ĐGTS. Do đó, cần quy định rõ thẩm quyền hủy kết quả ĐGTS trong từng trường hợp để đảm bảo tính khả thi trên thực tế” (UBND tp. Đà Nẵng).
Trả lời:
Điều 72 Luật Đấu giá tài sản tại đã quy định cụ thể về các trường hợp hủy kết quả đấu giá tài sản, trong đó, người có tài sản và người trúng đấu giá có thể thỏa thuận hủy kết quả đấu giá, người có tài sản có quyền hủy bỏ hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản khi tổ chức đấu giá tài sản có hành vi vi phạm về trình tự, thủ tục đấu giá, việc yêu cầu Tòa án hủy kết quả đấu giá tài sản trường hợp phát hiện hành vi thông đồng, móc nối, dìm giá dẫn đến làm sai lệch thông tin tài sản đấu giá, hồ sơ tham gia đấu giá hoặc kết quả đấu giá tài sản. Đối với tài sản nhà nước, kết quả đấu giá cũng bị hủy theo quyết định của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp. Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã đã quy định cụ thể các trường hợp vi phạm hành chính dẫn đến hủy kết quả đấu giá tài sản. Ngoài ra, pháp luật chuyên ngành cũng có quy định về việc hủy quyết định công nhận hoặc phê duyệt kết quả trúng đấu giá, xử lý các hành vi vi phạm sau đấu giá như quy định của pháp luật về đất đai, khoáng sản...
Như vậy, Điều 72 Luật Đấu giá tài sản và pháp luật chuyên ngành đã có các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục hủy kết quả đấu giá, ký Quyết định công nhận kết quả đấu giá tài sản. Tuy nhiên, ghi nhận ý kiến trên, trong thời gian tới khi sửa đổi, bổ sung Luật đấu giá tài sản và văn bản liên quan, Bộ Tư pháp sẽ rà soát, nghiên cứu để quy định cụ thể hơn vấn đề này.
 12. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm tham mưu Chính phủ trình Quốc hội sửa đổi Luật Công chứng, Luật Đấu giá tài sản theo hướng cụ thể, rõ ràng, phân định rõ trách nhiệm của từng cơ quan thực hiện..., để khắc phục những hạn chế trong tổ chức và hoạt động, tên gọi của các tổ chức hành nghề công chứng (UBND các tỉnh: Đồng Nai, Phú Thọ).
Trả lời:
- Hiện nay, Bộ Tư pháp đang chuẩn bị tổ chức Hội nghị tổng kết thi hành Luật công chứng năm 2014 và đã đề xuất đưa việc sửa đổi Luật này trong khoảng thời gian năm 2022-2024. Các vấn đề địa phương vướng mắc, kiến nghị đã và đang được Bộ Tư pháp tổng hợp, đánh giá và có phương án sửa đổi, bổ sung phù hợp để báo cáo Chính phủ, Quốc hội.
- Qua gần 5 năm triển khai Luật Đấu giá tài sản, Bộ Tư pháp đã nhận được kiến nghị, phản ánh của một số địa phương về những khó khăn, vướng mắc liên quan đến tổ chức, hoạt động của tổ chức đấu giá tài sản. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tổng hợp các kiến nghị, vướng mắc của địa phương để chuẩn bị tổ chức tổng kết 05 năm thi hành Luật Đấu giá tài sản và đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đấu giá tài sản không còn phù hợp, còn vướng mắc. Do đó, đề nghị địa phương cung cấp thông tin cụ thể những khó khăn, vướng mắc phát sinh tại địa phương để Bộ Tư pháp tổng hợp, nghiên cứu và có biện pháp xử lý phù hợp.
13. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm hướng dẫn Quy chế phối hợp trong thực hiện chế định Thừa phát lại (UBND tỉnh Đồng Nai).
Trả lời:
Theo quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, Nghị định số 135/2013/NĐ-CP thì Thừa phát lại thực hiện tống đạt văn bản của Tòa án, cơ quan Thi hành án dân sự theo địa hạt đã được các cơ quan phối hợp, thống nhất phân chia, ngân sách nhà nước cấp kinh phí để chi trả hoạt động này; Thừa phát lại có thẩm quyền tổ chức cưỡng chế thi hành án, các cơ quan liên quan có trách nhiệm phối hợp trong tổ chức cưỡng chế thi hành án của Thừa phát lại.
Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định việc tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Thi hành án dân sự có nhu cầu tống đạt với Văn phòng Thừa phát lại; Nghị định số 08/2020/NĐ-CP bỏ thẩm quyền cưỡng chế thi hành án dân sự của Thừa phát lại. Như vậy, việc xây dựng Quy chế phối hợp để hỗ trợ hoạt động tống đạt, tổ chức thi hành án của Thừa phát lại không còn cần thiết. Bộ Tư pháp đã lấy ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, báo cáo đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét, không ban hành Quy chế phối hợp và đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý (theo Công văn số 5213/VPCP-PL ngày 04/6/2018 của Văn phòng Chính phủ về việc Quy chế phối hợp trong thực hiện chế định Thừa phát lại).
14. Mặc dù có cơ chế cho phép thành lập các tổ chức bổ trợ tư pháp ngoài công lập; nhưng do khó khăn về nguồn lực, cơ chế, nghiệp vụ và thị trường, một số lĩnh vực cụ thể, công tác xã hội hóa còn hạn chế: lĩnh vực giám định tư pháp đã cho phép thành lập Văn phòng giám định tư pháp từ năm 2013 nhưng đến nay tại Hải Phòng chưa thành lập được Văn phòng giám định tư pháp; lĩnh vực trọng tài thương mại, hòa giải thương mại: đến nay trên địa bàn thành phố vẫn chưa có Trung tâm Trọng tài thương mại, Trung tâm Hòa giải thương mại nào, do đây là lĩnh vực mới đòi hỏi chuyên môn cao, là hoạt động đặc thù và không vì mục tiêu lợi nhuận.
Đội ngũ cán bộ bổ trợ tư pháp của thành phố phát triển chênh lệch giữa khu vực thành thị và nông thôn; tổ chức bổ trợ tư pháp chủ yếu đặt trụ sở tại các quận trung tâm thành phố và các khu vực đông dân cư, vì thế nhiều nơi trên địa bàn thành phố không có, làm hạn chế khả năng cung ứng dịch vụ pháp lý, đáp ứng nhu cầu của người dân, nhất là khu vực nông thôn.
Một số trường hợp phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp chưa được dự liệu trong các văn bản pháp luật hoặc không có quy định cụ thể gây khó khăn cho các cơ quan quản lý và tổ chức bổ trợ tư pháp.           
Các tổ chức bổ trợ tư pháp quy mô còn nhỏ, năng lực cạnh tranh hạn chế, chất lượng dịch vụ còn chưa cao. Số lượng người có chức danh bổ trợ tư pháp (luật sư, công chứng viên, đấu giá viên, quản tài viên, hòa giải viên thương mại...) thông thạo ngoại ngữ, am hiểu pháp luật quốc tế, đủ khả năng tham gia đàm phán, giải quyết các tranh chấp quốc tế còn rất ít.
Đề nghị Bộ Tư pháp ban hành các quy định, hướng dẫn về tổ chức, hoạt động bổ trợ tư pháp thống nhất, đồng bộ; trong đó cần bổ sung các quy định mang tính ổn định, quản lý chặt chẽ, đảm bảo hiệu lực của cơ quan quản lý Nhà nước về bổ trợ tư pháp ở địa phương (UBND tp. Hải Phòng).
Trả lời:
Để nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước đối với các hoạt động bổ trợ tư pháp, đảm bảo thống nhất, ổn định, phát huy và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức hành nghề, tổ chức xã hội nghề nghiệp trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, trong những năm qua, Bộ Tư pháp đã thực hiện nhiều biện pháp, giải pháp, trong đó khâu hoàn thiện thể chế pháp luật về lĩnh vực bổ trợ tư pháp đã và đang được quan tâm thực hiện. Đến nay, thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp đã cơ bản được hoàn thiện, đã có 6/9 lĩnh vực có luật điều chỉnh và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các văn bản luật này đều đã được ban hành; còn 03/9 lĩnh vực được điều chỉnh bởi các nghị định. Các văn bản nêu trên đã quy định cụ thể vai trò, trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước có liên quan, trong đó đã quy định rõ vai trò của Sở Tư pháp tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động bổ trợ tư pháp tại địa phương. Do vậy, trước hết đề nghị địa phương nghiên cứu, tổ chức thực hiện có hiệu quả các văn bản đã được ban hành. Đồng thời, Bộ Tư pháp ghi nhận ý kiến trên của địa phương để tiếp tục rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của lĩnh vực này.
15. Đề nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu, xây dựng cơ chế tăng cường sự tham gia của luật sư vào dự án công, khuyến khích sự tham gia của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư đóng góp ý kiến tham gia xây dựng chính sách, pháp luật của cả nước (nói chung) và Thành phố nói riêng (UBND tp. Hồ Chí Minh).
Trả lời:
Theo Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ II của Liên đoàn luật sư Việt Nam, trong 06 năm qua, Liên đoàn đã có ý kiến đóng góp với 139 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo yêu cầu của các cơ quan, trong đó có nhiều văn bản pháp luật quan trọng như: Các dự thảo luật Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng hành chính, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Đấu giá tài sản, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2015… và nhiều dự thảo Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư, Đề án, hướng dẫn và các văn bản quy phạm pháp luật khác của các Bộ, ngành. Các Đoàn Luật sư ở các tỉnh, thành phố cũng triển khai nhiều hoạt động trong công tác tham gia xây dựng các đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương.
Bộ Tư pháp ghi nhận kiến nghị này của địa phương. Thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các Bộ, ngành liên quan tăng cường triển khai các hoạt động thu hút sự tham gia của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư trong cả nước đóng góp ý kiến tham gia xây dựng chính sách, pháp luật của Trung ương và địa phương.
16. Đề nghị Bộ Tài chính xem xét lại việc thanh toán các khoản thu từ việc bán hồ sơ tham gia đấu giá và thù lao dịch vụ đấu giá tài sản theo hướng tách từ hai khoản thu riêng, thực hiện theo quy định tại Thông tư số 45/2017/TT-BTC; Thông tư số 48/2017/TT-BTC gây khó khăn rất lớn trong triển khai thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt là những năm đầu đơn vị triển khai thực hiện tự chủ về tài chính (UBND tỉnh Lào Cai).
Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính sửa đổi điểm b khoản 1 Điều 4 Thông tư số 48/2017/TT-BTC ngày 15/5/2017 của Bộ Tài chính theo hướng tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá thuộc về tổ chức đấu giá tài sản (UBND tỉnh Quảng Ninh).
Trả lời:
Để khắc phục các hạn chế, bất cập trong quá trình triển khai Thông tư số 45/2017/TT-BTC và Thông tư số 48/2017/TT-BTC, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 108/2020/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 45/2017/TT-BTC. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tiếp tục phối hợp với Bộ Tài chính để sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 48/2017/TT-BTC (Bộ Tư pháp đã có Công văn số 2414/BTP-BTTP ngày 21/7/2021 gửi Bộ Tài chính về vấn đề này).
17. Đề nghị Bộ Tư pháp hướng dẫn những trường hợp phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phát sinh một số trường hợp có giao dịch liên quan đến việc thực hiện của Văn phòng công chứng trong thời gian Văn phòng công chứng bị đình chỉ hoạt động, nhưng chưa được pháp luật về công chứng quy định, hướng dẫn. Cụ thể:
- Phát sinh công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng giao dịch mà văn phòng công chứng đã thực hiện. Trong khi, khoản 2 Điều 51 Luật Công chứng chỉ quy định trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể. Chưa quy định trường hợp bị đình chỉ hoạt động.
- Các hợp đồng, giao dịch Văn phòng công chứng đang thụ lý, đang thực hiện niêm yết (ví dụ đất hộ gia đình phải chờ đủ người ký, các giao dịch liên quan đến thỏa thuận phân chia, khai nhận di sản,...) (UBND tỉnh Ninh Thuận).
Trả lời:
Về nội dung này, ngày 05/7/2021, Bộ Tư pháp (Cục Bổ trợ tư pháp) đã có Công văn số 622/BTTP-CC,TPL trả lời Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận.
Theo đó, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (khoản 7 Điều 16) quy định Văn phòng công chứng bị đình chỉ hoạt động có thời hạn trong trường hợp có hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 4 và điểm b khoản 6 Điều này. Như vậy, trong thời gian bị đình chỉ hoạt động, Văn phòng công chứng không được hoạt động công chứng.

Đối với việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng, giao dịch, Luật Công chứng (khoản 2 Điều 51) quy định việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng trong trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng đang còn hoạt động cũng như trong trường hợp tổ chức hành nghề công chứng này chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể. Tuy nhiên, Luật Công chứng không có quy định về việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đối với trường hợp Văn phòng công chứng bị đình chỉ hoạt động. Do đó, không có cơ sở để thực hiện yêu cầu sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch hoặc tiếp tục thực hiện các yêu cầu công chứng đang thực hiện trong thời gian Văn phòng công chứng bị đình chỉ hoạt động. Trong thời gian tới, khi sửa đổi Luật công chứng, Bộ Tư pháp sẽ rà soát, nghiên cứu để bổ sung quy định này cho phù hợp.
18. Đề nghị sửa đổi tỷ lệ trích nộp phí của Phòng Công chứng được quy định tại Thông tư số 257/2016/TT-BTC theo hướng giảm tỷ lệ trích nộp, bảo đảm sự cân đối, công bằng so với các Văn phòng công chứng (là tỷ lệ thực tế các Văn phòng công chứng được hưởng sau khi có các ưu đãi hỗ trợ đối với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, theo địa bàn, lĩnh vực…), đảm bảo các Phòng Công chứng trở thành đơn vị giữ vai trò chủ đạo trong cung cấp dịch vụ công chứng theo chính sách của Chính phủ và khuyến khích các Phòng Công chứng chuyển đổi thành đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi thường xuyên; có cơ chế miễn giảm tỷ lệ trích nộp khi nguồn doanh thu từ phí thấp để phục vụ cho hoạt động sự nghiệp và cải cách tiền lương khi tự chủ hoàn toàn (UBND tỉnh Phú Thọ).
Trả lời:
Hiện nay, việc trích nộp phí thu được của Phòng Công chứng đang thực hiện theo quy định của Thông tư số 257/2016/TT-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí công chứng; phí chứng thực; phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề công chứng; phí thẩm định điều kiện hoạt động Văn phòng Công chứng; lệ phí cấp thẻ công chứng viên và phải bảo đảm phù hợp với quy định của Nghị định số 60/2021/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 172/NQ-CP ngày 19/11/2020 của Chính phủ về chính sách phát triển nghề công chứng, ngày 19/02/2021, Bộ Tài chính có Công văn số 1644/BTC-HCSN đề nghị Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, địa phương rà soát, đánh giá việc thực hiện các quy định về chính sách tài chính hiện hành đối với các tổ chức hành nghề công chứng. Để có cơ sở đánh giá tổng thể và toàn diện, Bộ Tư pháp đã có các văn bản gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Hiệp hội công chứng viên Việt Nam đề nghị rà soát, đề xuất về chính sách tài chính đối với tổ chức hành nghề công chứng. Trên cơ sở đề xuất của các địa phương và Hiệp hội công chứng viên Việt Nam, hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu sửa đổi, bổ sung bảo đảm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và phù hợp với quy định của pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.
19. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Công an sớm ban hành Quy chế phối hợp giữa Trung tâm pháp y cấp tỉnh và Phòng Kỹ thuật hình sự thuộc Công an cấp tỉnh, các cơ quan có liên quan trong việc tiếp nhận trưng cầu và thực hiện giám định pháp y theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 27 Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chỉnh phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp 2012 (UBND tỉnh Phú Yên).
Trả lời:
Thực hiện các quy định nêu trên, Bộ Tư pháp đã rất tích cực tham gia cùng Bộ Y tế, Bộ Công an tiến hành xây dựng dự thảo Quy chế phối hợp nêu trên. Tuy nhiên, hiện nay còn một số nội dung thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Bộ Công an và Bộ Y tế nhưng các Bộ này chưa thống nhất. Do đó, Bộ Y tế đã Báo cáo đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến chỉ đạo. Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với 02 bộ nêu trên hoàn thiện dự thảo Quy chế sau khi Thủ tướng Chính phủ có ý kiến chỉ đạo.
20. Đề nghị Bộ Tư pháp kiến nghị Bộ Công an đề xuất Chính phủ sửa đổi Nghị định 99/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 theo hướng các văn phòng công chứng sử dụng thêm dấu ướt phải được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền  để phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước về công chứng. Cụ thể bỏ cụm từ “Công chứng” trong khoản 14 Điều 3: “14. Tổ chức kinh tế quy định tại Nghị định này là doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập, hoạt động theo các luật: Công chứng, luật sư, giám định tư pháp, kinh doanh bảo hiểm, chứng khoán, hợp tác xã” (UBND tỉnh Quảng Ninh).
Trả lời:
Ghi nhận ý kiến này, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với Bộ Công an trong quá trình sửa đổi, bổ sung Nghị định số 99/2016/NĐ-CP, bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật và yêu cầu quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng.
21. Đề nghị Bộ Tư pháp tiếp tục rà soát nhu cầu của các địa phương, tổ chức các đợt kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng để tạo nguồn bổ sung công chứng viên cho phù hợp (UBND tỉnh Quảng Ninh).
Trả lời:
Triển khai thực hiện Thông tư số 04/2015/TT-BTP của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn tập sự hành nghề công chứng, trên nhu cầu của các địa phương,  việc kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng đã được thực hiện từ năm 2016 và cho đến nay đã tổ chức được 03 kỳ kiểm tra 1.513 người hoàn thành thời gian tập sự, cấp Giấy chứng chứng nhận cho 914 thí sinh đạt yêu cầu. Trong năm 2021, Bộ Tư pháp đã ban hành kế hoạch tổ chức kỳ kiểm tra lần thứ 4 tại hai khu vực (phía Nam và phía Bắc), tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 trong phạm vi cả nước nên đến nay mới chỉ tổ chức được ở khu vực phía Nam với hơn 700 thí sinh tham dự. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu các giải pháp (trong đó có việc sửa đổi Thông tư hướng dẫn tập sự hành nghề công chứng) để tổ chức kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng tốt hơn, đáp ứng nhu cầu của các địa phương.
22. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm ban hành Thông tư của Bộ Tư pháp quy định tiêu chí lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản theo quy định tại Khoản 4 Điều 56 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 (UBND tỉnh Sơn La).
Trả lời:
Triển khai quy định tại khoản 4 Điều 56 Luật Đấu giá tài sản, Bộ Tư pháp đã xây dựng, hoàn thiện Thông tư quy định tiêu chí lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản, dự kiến được ban hành trong tháng 12 năm 2021.
23. Đề nghị Bộ Tư pháp kiến nghị các Bộ, ngành Trung ương có liên quan chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý (Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án dân sự tỉnh,..) tiếp tục quan tâm phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho Thừa phát lại thực hiện các công việc, góp phần thực hiện có hiệu quả chế định Thừa phát lại tại địa phương (UBND tỉnh Tiền Giang).
Trả lời:
Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã tích cực phối hợp với các Bộ, ngành triển khai nhiều giải pháp nhằm tạo cơ sở pháp lý, tạo điều kiện cho thừa phát lại hoạt động. Trong đó, thực hiện nhiệm vụ được giao về việc chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ báo cáo Quốc hội về công tác thi hành án hàng năm, trong phần kiến nghị, đề xuất gửi Quốc hội, Bộ Tư pháp đều đề nghị các cơ quan có liên quan như Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chỉ đạo các đơn vị của ngành phối hợp, hỗ trợ các Văn phòng Thừa phát lại trên địa bản trong quá trình hoạt động; đồng thời cũng kiến nghị Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương chỉ đạo cấp ủy các Bộ, ngành, địa phương quan tâm chỉ đạo triển khai chế định Thừa phát lại tại Bộ, ngành, địa phương mình, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong cải cách tư pháp. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan để nâng cao hiệu quả hoạt động của lĩnh vực này.
VII. TRUNG TÂM LÝ LỊCH TƯ PHÁP QUỐC GIA
1. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu cấp có thẩm quyền nên cần phải quy định thành một thủ tục hành chính về xóa án tích để quy định cụ thể hơn về thành phần hồ sơ, thời gian thực hiện ... nhằm hạn chế được số lượng hồ sơ gỉải quyết trễ hẹn của các Sở Tư pháp (UBND Tỉnh Bình Thuận).
Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan ở Trung ương hướng dẫn, xây dựng thủ tục đương nhiên xóa án tích là một thủ tục hành chính, cần tách biệt với thủ tục cấp phiếu LLTP, theo đó thời hạn đương nhiên xóa án tích quy định phù hợp thực tế; Quy định về cơ chế cụ thể để rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, bảo đảm cho việc phối hợp cung cấp thông tin lý lịch của các cơ quan có liên quan được nhanh chóng, thuận lợi; phối hợp triển khai đến công tác thừa phát lại, giám định tư pháp, luật sư, trợ giúp pháp lý, hộ tịch (UBND TP. Hà Nội).
Cần quy định cụ thể trình tự, thủ tục, thời gian, thành phần hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu LLTP cho cá nhân trong trường hợp cấp Phiếu LLTP với mục đích xóa án tích theo quy định của Bộ luật hình sự 2015.
Đề nghị Bộ Tư pháp xây dựng và ban hành quy định riêng về thời gian cấp phiếu LLTP cho các trường hợp đương nhiên xóa án tích để đảm bảo thời gian cấp phiếu đối với những trường hợp này (UBND tỉnh Thái Nguyên).
Bộ Tư pháp cần quan tâm, phối hợp với địa phương trong việc tra cứu thông tin để trả kết quả kịp thời, chính xác cho người dân theo quy định (UBND tỉnh Vĩnh Long).
Trả lời:
Pháp luật về lý lịch tư pháp (LLTP) đã quy định cụ thể về trình tự, thủ tục và thời hạn cấp Phiếu LLTP nói chung và trong trường hợp phải xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích nói riêng. Đặc biệt, tại Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật LLTP và Thông tư liên tịch số 04/2010/TTLTP-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 10/5/2012 hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin LLTP đã quy định cụ thể về cơ chế phối hợp và trách nhiệm của mỗi Ngành (Tư pháp, Công an, Tòa án, Viện kiểm sát) ở Trung ương và địa phương trong phối hợp tra cứu, xác minh thông tin để cấp Phiếu LLTP. Hơn nữa, để bảo đảm kết quả cấp Phiếu LLTP chính xác, bảo đảm thời hạn cấp Phiếu LLTP theo quy định của pháp luật, Trung tâm LLTP quốc gia, Bộ Tư pháp và Cục Hồ sơ nghiệp vụ, Bộ Công an đã xây dựng, ban hành và triển khai hiệu quả Quy chế phối hợp số 02/QCPH-TTLLTPQG-C53 ngày 29/6/2018 phối hợp tra cứu, xác minh thông tin để cấp Phiếu LLTP. Qua đó, cơ bản khắc phục được những hạn chế, vướng mắc trong công tác cấp Phiếu LLTP, bảo đảm thời hạn cấp Phiếu LLTP, nhiều địa phương đã bảo đảm 100% thời hạn cấp Phiếu LLTP đúng và sớm thời hạn.
Để hạn chế số lượng hồ sơ trễ hạn, hiện nay, Bộ Tư pháp đang nghiên cứu, đề xuất xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Lý lịch tư pháp, trong đó dự kiến đề xuất bổ sung thêm quy trình, thủ tục riêng đối với những trường hợp cá nhân muốn được thực hiện các thủ tục để đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích, bảo đảm thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp.
Về phía địa phương, đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh/ thành phố quan tâm, chỉ đạo cơ quan Công an và đề nghị cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát trên địa bàn thực hiện tốt hơn nữa các quy định về pháp luật LLTP, bảo đảm các cơ quan này cung cấp thông tin LLTP về án tích đầy đủ cho Sở Tư pháp để xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP và cấp Phiếu LLTP.

2. Đề nghị Bộ Tư pháp tiếp tục chuẩn hóa TTHC trong lĩnh vực Tư pháp, đặc biệt cần cải tiến về quy trình, thủ tục, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực LLTP để nâng cao hiệu quả, khắc phục những khó khăn, vướng mắc cho Sở Tư pháp và thuận tiện cho người dân. Đối với các TTHC được giải quyết liên thông giữa Sở Tư pháp với Bộ Tư pháp, cần xây dựng quy chế thực hiện, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ, Sở Tư pháp, quy trình, thời gian, kết quả, trách nhiệm giải trình, trả lời khi có sai sót, chậm trễ trong giải quyết TTHC (UBND TP. Hà Nội).
Trả lời:
Ngày 23/6/2021, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1050/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp, trong đó có lĩnh vực LLTP. Trên cơ sở đó, các thủ tục hành chính trong lĩnh vực LLTP đã được chuẩn hóa, công bố công khai trên Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công Bộ Tư pháp.
Về kiến nghị cải tiến quy trình, thủ tục, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực LLTP: Ngay từ giai đoạn đầu triển khai thi hành Luật LLTP, Bộ Tư pháp luôn chủ động và sớm triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động xây dựng Cơ sở dữ liệu LLTP và cấp Phiếu LLTP. Trong đó, hoạt động cấp Phiếu LLTP đã có những giải pháp cải tiến quy trình, thủ tục và ứng dụng công nghệ thông tin vào tra cứu, xác minh thông tin LLTP giữa Trung tâm LLTP quốc gia, Sở Tý pháp và cõ quan Công an (theo Quy chế phối hợp số 02/QCPH-TTLLTPQG-C53 ngày 29/6/2018), qua đó giải quyết triệt để tình trạng chậm thời hạn cấp Phiếu LLTP, bảo đảm tỷ lệ cấp Phiếu LLTP chính xác, đúng hạn hơn 98%, nâng cao chỉ số cải cách hành chính của địa phương; Bộ Tư pháp cũng có hướng dẫn về việc triển khai cấp Phiếu LLTP qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp Phiếu LLTP trực tuyến theo quy định của pháp luật hiện hành và pháp luật về LLTP.
Quy chế phối hợp số 02 đã quy định rất cụ thể trách nhiệm của Trung tâm LLTP quốc gia, cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ, Sở Tư pháp cũng như quy trình phối hợp tra cứu, xác minh thông tin. Do đó, để Phiếu LLTP cấp ra với kết quả chính xác, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật, đề nghị Sở Tư pháp thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Trung tâm LLTP quốc gia trong quá trình tra cứu, xác minh thông tin để cấp Phiếu LLTP theo Quy chế phối hợp số 02 nêu trên.
Thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục nghiên cứu, đẩy mạnh việc cải tiến quy trình, thủ tục, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác cấp Phiếu LLTP để đáp ứng tốt hơn yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

3. Để việc xây dựng Cơ sở dữ liệu LLTP được hoàn thiện, nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu đặt ra thì cần có sự quan tâm, đầu tư lâu dài về kho bảo quản; tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn về công tác lưu trữ song song với đào tạo nghiệp vụ về LLTP (UBND tỉnh Lâm Đồng).
Đề nghị Bộ Tư pháp tăng cường công tác tập huấn, hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho công chức làm công tác LLTP của các Sở Tư pháp nhằm nâng cao nghiệp vụ, thực hiện có hiệu quả Luật LLTP (UBND các tỉnh: Phú Yên, Quảng Trị).
Trả lời:
Từ khi Luật LLTP được ban hành đến nay, Bộ Tư pháp đã tổ chức các lớp tập huấn cho đội ngũ cán bộ làm công tác LLTP tại Trung tâm LLTP quốc gia và các Sở Tư pháp về nghiệp vụ xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP, cách sử dụng Phần mềm Quản lý LLTP trong công tác xây dựng cơ sở dữ liệu và cấp Phiếu LLTP. Trong năm 2018, Bộ Tư pháp đã tổ chức 02 lớp tập huấn chuyên sâu về Bộ luật hình sự năm 2015 cho đội ngũ cán bộ làm công tác LLTP 63 Sở Tư pháp, qua đó kịp thời tháo gỡ được nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn công tác LLTP nói chung và về việc cấp Phiếu LLTP cho những trường hợp đương nhiên được xóa án tích nói riêng.
Trong năm 2021, theo Kế hoạch đã phê duyệt, Bộ Tư pháp dự kiến sẽ tổ chức lớp cho đội ngũ cán bộ làm công tác LLTP và đội ngũ cán bộ phối hợp liên ngành trong công tác LLTP tại các Bộ, ngành, địa phương. Tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên Bộ Tư pháp chưa thể tổ chức tập huấn. Bộ Tư pháp xin ghi nhận kiến nghị nêu trên để triển khai tập huấn trong các năm tiếp theo.
Để bảo đảm nguồn lực làm công tác LLTP ổn định về số lượng và đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ, Bộ Tư pháp đề nghị Sở Tư quan tâm, hạn chế việc luân chuyển, điều động cán bộ đã có kinh nghiệm, đã được đào tạo, tập huấn chuyên sâu về nghiệp vụ LLTP.

4. Đề nghị Bộ Tư pháp có văn bản hướng dẫn các địa phương thực hiện nghiêm túc trong việc phối hợp tra cứu, trao đổi, cung cấp thông tin LLTP giữa các địa phương với nhau, trong đó chú trọng việc đảm bảo chất lượng nội dung của thông tin (UBND tỉnh Phú Yên).
Đề nghị Bộ Tư pháp tăng cường hơn nữa hiệu quả của cơ chế phối hợp liên ngành trong hoạt động trao đổi, cung cấp thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP; tra cứu xác minh thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP ngày càng hoàn thiện (UBND tỉnh Quảng Trị).
Trả lời:
Hiện nay, Luật LLTP năm 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định cơ bản đầy đủ về cơ chế phối hợp, làm rõ trách nhiệm, thẩm quyền, thời hạn trao đổi, cung cấp, tra cứu và xác minh thông tin LLTP giữa cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP và các cơ quan có liên quan như Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Công an, thi hành án dân sự, cơ quan có liên quan thuộc Bộ Quốc phòng... để xây dựng cơ sở dữ liệu và cấp Phiếu LLTP. Tuy nhiên, trong thực tiễn triển khai các quy định nêu trên vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc xuất phát từ nhiều nguyên nhân như đương sự đã cư trú tại nhiều nơi; do sự chia tách, sát nhập của các cơ quan đã từng lưu trữ, quản lý thông tin; do án tích có trước ngày 01/7/2010 ( ngày Luật LLTP có hiệu lực), đặc biệt nhiều trường hợp bị kết án từ rất lâu (có án tích từ 20, 30 năm); nhận thức của một số ít cơ quan về công tác này chưa đúng mức… Do đó, công tác phối hợp tra cứu, xác minh, cung cấp thông tin còn chậm trễ, chất lượng chưa bảo đảm, kéo dài thời hạn cấp Phiếu LLTP, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của công dân cũng như chưa đáp ứng được yêu cầu về cải cách hành chính. 
Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện cơ chế phối hợp trao đổi, cung cấp thông tin về án tích như các kiến nghị nêu trên, trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tổ chức cuộc họp liên ngành để tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng để chỉ đạo các cơ quan liên quan thuộc Bộ, ngành mình triển khai nghiêm túc, hiệu quả các quy định của pháp luật về LLTP, đồng thời cũng nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về LLTP thời gian tới. Về phía địa phương, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố tiếp tục quan tâm, chỉ đạo đối với cơ quan Công an và đề nghị cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát tại địa phương thực hiện tốt hơn nữa các quy định của pháp luật về LLTP, bảo đảm cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời cho Sở Tư pháp để phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu và cấp Phiếu LLTP.

5. Đề nghị Bộ Tư pháp hướng dẫn đối với trường hợp hồ sơ án quá lâu trên 20 mươi năm nên Tòa án nhân dân đã xét xử (trong tỉnh hoặc tỉnh ngoài) không còn lưu trữ nên không thể cung cấp cho Sở Tư pháp. Vì vậy, Sở Tư pháp không có cơ sở để thực hiện xóa án tích cho đương sự (UBND tỉnh Sóc Trăng).
Trả lời:
Về vấn đề này, Bộ Tư pháp đã có hướng dẫn tại một số văn bản nghiệp vụ gửi Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cụ thể: Đối với một số trường hợp bản án đã quá lâu, hết thời hiệu thi hành bản án, các cơ quan có thẩm quyền không còn lưu giữ thông tin về án tích của đương sự thì để bảo đảm quyền và lợi ích của cá nhân, tạo điều kiện cho người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng, Sở Tư pháp xem xét xóa án tích cho người bị kết án nếu người đó không có hành vi phạm tội mới theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
6. Đề xuất Bộ Tư pháp thực hiện nghiên cứu phương án cấp Phiếu LLTP đáp ứng dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trên môi trường điện tử (UBND tỉnh Sóc Trăng).
Trả lời:
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình tại Công văn số 6417/VPCP-PL ngày 05/8/2020 của Văn phòng Chính phủ về việc không ban hành Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, ngày 25/11/2020, Bộ Tư pháp đã gửi Công văn số 4413/BTP-TTLLTPQG gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc thông báo ý kiến của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình về việc thực hiện Quyết định số 19/QĐ-TTg, trong đó, đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương kết thúc thực hiện Đề án thí điểm cấp Phiếu LLTP qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp Phiếu LLTP trực tuyến và thực hiện cấp Phiếu LLTP qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp Phiếu LLTP trực tuyến theo các quy định của pháp luật hiện hành. Theo đó, cá nhân thực hiện đăng ký tài khoản, đăng nhập tài khoản và nộp hồ sơ điện tử theo Quy trình giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử quy định tại Chương II Nghị định số 45/2020/NĐ-CP. Để phù hợp với quy định của Luật LLTP năm 2009, Phiếu LLTP cấp cho cá nhân dưới hình thức văn bản giấy theo quy định của pháp luật về LLTP (Phiếu LLTP được in trên phôi có hoa văn theo mẫu, được dán tem chống giả) và được trả qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tiếp tại trụ sở cơ quan cấp Phiếu LLTP. Quy trình nêu trên đã cơ bản đáp ứng mức độ 4 dịch vụ công trực tuyến theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ Quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên Trang thông tin điện tử hoặc Cổng Thông tin điện tử của cơ quan nhà nước.
Để việc triển khai đăng ký cấp Phiếu LLTP trực tuyến đáp ứng mức độ 4 dịch vụ công trực tuyến một cách toàn diện, Bộ Tư pháp đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố sớm hoàn thành các giải pháp kỹ thuật để cung cấp dịch vụ công trực tuyến về cấp Phiếu LLTP trên Cổng Dịch vụ công của tỉnh/thành phố theo quy định tại Nghị định số 61/2018/NĐ-CP và Nghị định số 45/2020/NĐ-CP (theo hướng dẫn tại Công văn số 2636/BTP-CNTT ngày 21/7/2020 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn triển khai tích hợp một số dịch vụ công của Ngành Tư pháp lên Cổng Dịch vụ công quốc gia).
7. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan tháo gỡ vướng mắc tại biểu mẫu Trích lục Bản án hình sự giữa ngành Tư pháp và Tòa án, có ý kiến kiến nghị với TAND tối cao theo hướng: TAND tối cao chỉ đạo TAND địa phương thực hiện gửi Trích lục Bản án hình sự cho Sở Tư pháp theo đúng biểu mẫu số 01/TTLT-LLTP ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP (UBND tỉnh Phú Yên).
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 10/5/2012 hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin LLTP thì thông tin LLTP được gửi dưới một trong các hình thức sau: “Trích lục bản án hình sự theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này (sau đây gọi là trích lục bản án hình sự) hoặc bản chính hoặc bản sao bản án”. Do đó, căn cứ nguồn nhân lực và điều kiện thực tế tại Tòa án để phục vụ công tác LLTP, Tòa án có thể lựa chọn gửi cho Sở Tư pháp bản sao hoặc bản chính bản án hoặc trích lục bản án hình sự theo mẫu nêu trên.
8. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Công an giảm thời hạn tra cứu thông tin LLTP đặc biệt là trong trường hợp hồ sơ phải xác minh thêm để bảm bảo tỷ lệ trả đúng hạn và trước hạn, giảm tối đa hồ sơ chậm thời hạn gây bức xác cho người dân (UBND tỉnh Nghệ An).
Trả lời:
Theo quy định của pháp luật về LLTP, thời gian tra cứu, xác minh thông tin tại cơ quan Công an là 07-09 ngày làm việc. Hiện nay, việc tra cứu cứu thông tin LLTP tại Cơ sở dữ liệu của ngành Công an đang được thực hiện theo Quy chế phối hợp số 02/QCPH-TTLLTPQG-C53, theo đó, cơ quan Công an có trách nhiệm trả kết quả tra cứu, xác minh cho Trung tâm LLTP quốc gia là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị tra cứu. Thời hạn này đã bảo đảm trong phạm vi thời hạn cấp Phiếu LLTP theo quy định của Luật LLTP. Qua thực tiễn triển khai cho thấy từ khi thực hiện Quy chế số 02/QCPH-TTLLTPQG-C53, đã có 98% trường hợp được trả đúng và trước thời hạn. Một số trường hợp đặc biệt chậm thời hạn chủ yếu là những trường hợp cá nhân từng có án tích nhưng không rõ thông tin, án tích tại nhiều địa phương khác nhau hoặc án tích từ nhiều năm trước, việc tra cứu, xác minh thông tin phức tạp, khó khăn.
9. Đề nghị Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung Tờ khai yêu cầu cấp Phiếu LLTP dạng song ngữ Việt - Anh theo Mẫu số 03/2013/TT-LLTP ban hành kèm Thông tư số 16/2013/TT-BTP ngày 11/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 13/2011/TT-BTP ngày 27/6/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn sử dụng biểu mẫu và mẫu sổ LLTP (UBND Tỉnh An Giang).
Trả lời:
Hiện nay, để tạo sự thuận tiện cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện thủ tục cấp Phiếu LLTP, Bộ Tư pháp đã đăng tải Tờ khai tiếng Anh trên Trang đăng ký cấp Phiếu LLTP trực tuyến. Tuy nhiên, Tờ khai này này không có giá trị sử dụng như Tờ khai tiếng Việt theo mẫu kèm theo Thông tư số 16/2013/TT-BTP. Vì vậy, tiếp thu kiến nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu, sửa đổi biểu mẫu Tờ khai yêu cầu cấp Phiếu LLTP để phù hợp với thực tế Phiếu LLTP đang được sử dụng phổ biến hơn trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
10. Đề nghị Bộ Tư pháp (TTLLTPQG) nâng cấp phần mềm Hệ thống LLTP dùng chung theo hướng đơn giản, dễ thao tác, dữ liệu LLTP được thể hiện theo dạng file pdf. Bên cạnh đó, tăng cường phối hợp, chia sẻ, kết nối với các cơ quan có liên quan như: Tòa án, Viện Kiểm sát, Thi hành án dân sự (UBND tỉnh Kiên Giang).
Trả lời:
Hiện nay, Phần mềm quản lý LLTP dùng chung đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu LLTP, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục nghiên cứu, nâng cấp, chỉnh sửa phần mềm để đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ.
Về kiến nghị phối hợp, chia sẻ, kết nối với các cơ quan có liên quan như: Tòa án, Viện Kiểm sát, Thi hành án dân sự...: Bộ Tư pháp cho rằng để triển khai việc kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa các ngành phải có tính đồng bộ, thống nhất về mặt kỹ thuật, hạ tầng để triển khai trên diện rộng, tuy nhiên, thực tế hiện nay do hạn chế về kinh phí trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác LLTP tại các cơ quan còn hạn chế nên chưa thể thực hiện việc chia sẻ, kết nối dữ liệu. Tuy nhiên, Bộ Tư pháp ghi nhận kiến nghị của địa phương để tiếp tục nghiên cứu, có giải pháp phù hợp, tiết kiệm kinh phí, hiệu quả trong công tác trao đổi, cung cấp thông tin dưới dạng điện tử giữa Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu LLTP và các cơ quan có liên quan.

11. Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật LLTP về nguyên tắc quản lý LLTP phải bảo đảm tôn trọng bí mật đời tư của cá nhân. Tuy nhiên, các thông tin trên đơn yêu cầu cấp phiếu lý lich tư pháp và Phiếu LLTP của công dân là thông tin về nhân thân, tình trạng án tích của một cá nhân, chứa đựng thông tin liên quan đến bí mật cá nhân cần phải được bảo vệ. Vì vậy, đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét, cho phép không số hóa hồ sơ yêu cầu cấp phiếu LLTP trên Hệ thống thông tin một cửa điện tử tỉnh (UBND tỉnh Quảng Trị).
Trả lời:
Hiện nay, trong quá trình việc xử lý, giải quyết yêu cầu cấp Phiếu LLTP, Sở Tư pháp đã thực hiện lưu trữ thông tin về hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu, quá trình tra cứu, xác minh thông tin và kết quả của Phiếu LLTP trên Phần mềm quản lý LLTP dùng chung. Vì vậy, để tránh chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, một nhiệm vụ giao nhiều cơ quan cùng thực hiện, Bộ Tư pháp cho rằng Hệ thống thông tin một cửa điện tử tỉnh chỉ số hóa hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu và theo dõi thời hạn, tiến độ giải quyết hồ sơ. Đồng thời việc số hóa hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu LLTP trên nguyên tắc bảo đảm bí mật đời tư, không công khai thông tin hồ sơ của người yêu cầu cấp Phiếu LLTTP.
12. Cần khắc phục tình trạng hồ sơ đã được nhập trên Hệ thống thông tin một cửa điện tử tỉnh nhưng không liên thông được dữ liệu sang Hệ thống Quản lý LLTP dùng chung của Bộ Tư pháp để đảm bảo tính ổn định trong việc triển khai thực hiện thủ tục cấp Phiếu LLTP có sự kết nối liên thông dữ liệu giữa 02 Hệ thống (UBND tỉnh Quảng Trị).
Trả lời:
Hiện nay, thông tin đã nhập trên Hệ thống thông tin một cửa điện tử tỉnh không liên thông được dữ liệu sang Hệ thống Quản lý LLTP dùng chung của Bộ Tư pháp do chưa đồng bộ về kỹ thuật, hạ tầng thông tin.
Để giải quyết vướng mắc này, ngày 21/7/2020, Bộ Tư pháp đã gửi Công văn số 2636/BTP-CNTT về việc hướng dẫn triển khai tích hợp một số dịch vụ công của Ngành Tư pháp lên Cổng Dịch vụ công quốc gia, trong đó, Bộ Tư pháp đề nghị các địa phương sớm chủ động xây dựng và triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến đối với các thủ tục hành chính nêu trên trên Cổng Dịch vụ công tập trung của tỉnh/thành phố, đồng thời, tích hợp dữ liệu được công dân đăng ký vào Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp tỉnh thay vì trực tiếp sử dụng các Phân hệ đăng ký trực tuyến của Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp sẽ hướng dẫn giải pháp và hỗ trợ các địa phương thực hiện kết nối, tích hợp dữ liệu giữa Hệ thống một cửa điện tử dùng chung của tỉnh/thành phố với các Hệ thống phần mềm nghiệp vụ của Bộ theo đúng các quy định của Chính phủ tại Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 quy định quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số trong cơ quan nhà nước. Do đó, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Sở Thông tin và Truyền thông sớm triển khai thực hiện chuyển đổi mô hình kết nối sang mô hình được hướng dẫn tại Công văn nêu trên của Bộ Tư pháp.

13. Đề nghị Bộ Tư pháp tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu LLTP (UBND tỉnh Quảng Trị).
Trả lời:
Nhận thức được vai trò của công nghệ thông tin trong công tác LLTP, từ năm 2012, Bộ Tư pháp đã thực hiện triển khai Phần mềm Quản lý LLTP dùng chung cho các Sở Tư pháp và Trung tâm LLTP quốc gia. Cho đến nay, Trung tâm LLTP quốc gia và các Sở Tư pháp đã sử dụng các phần mềm nói trên phục vụ hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu và cấp Phiếu LLTP, từ năm 2015 đến nay, Trung tâm LLTP quốc gia và các Sở Tư pháp đã thực hiện trao đổi thông tin LLTP điện tử. Việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện nay cơ bản đã đáp ứng được các yêu cầu của công tác LLTP. Bên cạnh đó, Trung tâm LLTP quốc gia, Bộ Tư pháp và các Sở Tư pháp cũng đã chủ động nghiên cứu, xây dựng những giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin khác vào hoạt động xây dựng Cơ sở dữ liệu LLTP và cấp Phiếu LLTP nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu LLTP và giải quyết tình trạng chậm thời hạn cấp Phiếu LLTP trên phạm vi toàn quốc, góp phần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác LLTP, hiện nay, Bộ Tư pháp đang giao cho Trung tâm LLTP quốc gia nghiên cứu xây dựng, thử nghiệm Phần mềm tự động hóa xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác cơ sở dữ liệu LLTP và cấp Phiếu LLTP. Phần mềm này cơ bản sẽ tự động hóa toàn bộ hầu hết các nghiệp vụ về xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP và cấp Phiếu LLTP, việc tiếp nhận các thông tin vào cơ sở dữ liệu được nhanh chóng, chính xác. Các cán bộ làm công tác LLTP không phải thực hiện nhiều thao tác, nhập thông tin thủ công và mất nhiều thời gian để xử lý các nghiệp vụ về LLTP như hiện nay và giải quyết triệt để việc tồn đọng thông tin LLTP. Phần mềm đang được thử nghiệm tại Trung tâm LLTP quốc gia, Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh.

VIII. VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
1. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg ngày 22/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ về xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; hướng dẫn phương thức đánh giá và bộ công cụ đánh giá các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác PBGDPL (mẫu phiếu điều tra, khảo sát; nội dung kiểm tra, phỏng vấn; báo cáo, các tài liệu khác…) để kịp thời triển khai thực hiện ở địa phương (UBND tỉnh Bình Định).
Trả lời:
Để triển khai Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 1320/QĐ-BTP ngày 18/8/2021 ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg, trong đó có nhiệm vụ xây dựng, ban hành Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg (thay thế Thông tư số 07/2017/TT-BTP). Đến nay, dự thảo Thông tư nói trên đã được Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký ban hành theo thẩm quyền (Thông tư số 09/TT-BTP ngày 15/11/2021).
Ngày 10/3/2018, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03/2018/TT-BTP quy định Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Đến nay, các bộ, ngành, địa phương đang tổ chức triển khai thực hiện Thông tư, hằng năm tự đánh giá và gửi kết quả về Bộ Tư pháp. Tuy nhiên, qua tổng hợp, rà soát, nắm bắt thông tin của Bộ, ngành, địa phương cho thấy việc triển khai Thông tư còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Để khắc phục tình trạng này, ngày 06/10/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1521/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 80/KL-TW, trong đó giao “Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương nghiên cứu xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật”. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tích cực phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương, cơ quan, chuyên gia xây dựng Đề án đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 3/2022). Việc ban hành Đề án sẽ tạo cơ sở cho việc xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác PBGDPL, cách thức áp dụng một cách khách quan, khoa học, toàn diện, phù hợp với yêu cầu thực tiễn, góp phần đưa công tác PBGDPL đi vào thực chất, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác PBGDPL.

2. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu sửa đổi Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 30/7/2014 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở theo hướng tăng kinh phí hỗ trợ cho tổ hòa giải và hòa giải viên lên mức 500.000 đồng/01 vụ, việc (UBND các tỉnh: Bình Dương, Đồng Nai).
Trả lời: 
Theo quy định tại khoản 19 Điều 4 Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTP-BTC thì mức chi thù lao cho hòa giải viên tối đa là 200.000 đồng/vụ, việc/tổ hòa giải.
Tại thời điểm xây dựng Thông tư liên tịch này, mức chi thù lao cho hòa giải viên được đề xuất dựa trên mức lương tối thiểu chung năm 2014 và đảm bảo tính khả thi khi thực hiện. Đến nay, tình hình kinh tế - xã hội đã phát triển, mức lương tối thiểu chung cũng đã tăng so với thời điểm ban hành Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTP-BTC. Vì vậy, cùng với kiến nghị của một số địa phương, ngày 25/10/2021, Bộ Tư pháp có Công văn số 3852/BTP-PBGDPL đề nghị các tỉnh/thành phố báo cáo đánh giá việc thực hiện Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTP-BTC. Trên cơ sở rà soát, nghiên cứu các quy định tại Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTP-BTC và tổng hợp báo cáo của địa phương, Bộ Tư pháp đang xây dựng hồ sơ đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu, xây dựng Thông tư thay thế Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTP-BTC theo hướng tăng mức chi các hoạt động đặc thù của công tác hòa giải ở cơ sở như: Chi bầu hòa giải viên; chi hỗ trợ cho hòa giải viên và tổ hòa giải ở cơ sở để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động của tổ hòa giải trong thời gian tới.

3. Với vai trò là cơ quan tham mưu giúp Chính phủ quản lý, điều tiết, theo dõi, hướng dẫn việc thực hiện Chương trình PBGDPL ở Trung ương, đề nghị Bộ Tư pháp có cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin; thống nhất trong chỉ đạo, điều hành giữa các bộ, ngành được giao chủ trì Đề án về các địa phương; nhất là trong công tác chỉ đạo, triển khai, báo cáo, tổng kết. Hàng năm, các Bộ, ngành Trung ương được giao chủ trì cần có hướng dẫn cụ thể nội dung thực hiện Đề án cho địa phương (UBND tỉnh Bến Tre).
Trả lời:
Với vai trò là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về PBGDPL, cũng như chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện Chương trình PBGDPL, hằng năm Bộ Tư pháp đều tham mưu Hội đồng phối hợp PBGDPL Trung ương ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền kế hoạch công tác PBGDPL, công văn hướng dẫn, chỉ đạo triển khai công tác PBGDPL, trong đó có nội dung triển khai các chương trình, đề án PBGDPL cụ thể như: Năm 2021 là năm cuối thực hiện Chương trình PBGDPL giai đoạn 2017 - 2021, Bộ Tư pháp đã ban hành Công văn hướng dẫn việc tổng kết Chương trình PBGDPL giai đoạn 2017 - 2021 và các đề án trong Chương trình. Đến nay, tất cả các địa phương và nhiều Bộ, ngành đã tổng kết việc thực hiện Chương trình.
Trên cơ sở kết quả tổng kết Chương trình và kiến nghị của địa phương, thực hiện nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 1521/QĐ-TTg ngày 06/10/2020 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp sẽ tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình PBGDPL giai đoạn 2022 - 2027, trong đó xác định trách nhiệm của Bộ Tư pháp về theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc, làm đầu mối phối hợp với các Bộ, ngành được giao chủ trì Đề án trong xây dựng, triển khai thực hiện, để việc triển khai thực hiện các Đề án được thống nhất, đồng bộ, thuận lợi, hiệu quả, đặc biệt ở các địa phương.
4. Đưa hình thức PBGDPL trên mạng xã hội trở thành một hình thức PBGDPL chủ yếu, xây dựng quy định về cách thức PBGDPL trên mạng xã hội, chế độ nhuận bút, thù lao đối với các nội dung tuyên truyền trên mạng xã hội. Chú trọng định hướng tuyên truyền, PBGDPL đối với các vấn đề được dư luận xã hội quan tâm (UBND tỉnh Đồng Nai).
Trả lời:
Ngày 26/4/2019, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 471/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác PBGDPL giai đoạn 2019 - 2021”, trong đó đã xác định việc đa dạng hóa các hình thức PBGDPL trên mạng xã hội như: facebook, youtube, twitter... là một nhiệm vụ chủ yếu của Đề án (Mục 5 Phần III Điều 1). Thực hiện Quyết định số 471/QĐ-TTg, ngày 18/12/2019, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 5016/BTP-PBGDPL gửi các Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương về việc triển khai Quyết định. Theo đó, việc PBGDPL trên mạng xã hội được thực hiện theo các quy định của pháp luật về an toàn, an ninh, quy tắc ứng xử trên môi trường mạng và các quy định khác có liên quan. Hiện nay, chế độ nhuận bút, thù lao đối với các nội dung tuyên truyền trên mạng xã hội được quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 27/01/2014 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm công tác PBGDPL và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở và Thông tư số 94/2012/TT-BTC ngày 15/11/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn mức chi tạo lập thông tin điện tử nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước.
Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp Bộ Tài chính rà soát, thay thế Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP để đảm bảo mức chi cho hoạt động trên phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL.

5. Đề nghị Bộ Tư pháp quan tâm hỗ trợ về công tác tập huấn nghiệp vụ về PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Quan tâm bố trí nguồn kinh phí cho việc thực hiện các Chương trình, Đề án PBGDPL (UBND tỉnh Quảng Trị).
Trả lời:
- Về công tác tập huấn:
Hằng năm, Bộ Tư pháp đều tổ chức các Hội nghị tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng tuyên truyền pháp luật cho các báo cáo viên pháp luật Trung ương (trung bình khoảng 02 lớp/năm) cho báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh trong khuôn khổ chương trình, đề án, dự án về PBGDPL; tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng về hòa giải ở cơ sở, cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cho công chức Sở Tư pháp.

Thực hiện Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, từ năm 2017 đến năm 2019, Bộ Tư pháp đã tổ chức 08 Hội nghị hướng dẫn nghiệp vụ đánh giá, công nhận, xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật gắn với tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho địa phương cho Lãnh đạo Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp; năm 2020, Bộ Tư pháp đã lựa chọn những địa phương có tỷ lệ đạt chuẩn tiếp cận pháp luật thấp để tổ chức Hội nghị tập huấn hướng dẫn về nghiệp vụ xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (Bình Phước, Kon Tum).
Đồng thời, Luật Hòa giải ở cơ sở giao Bộ Tư pháp có trách nhiệm: “Biên soạn, phát hành tài liệu, tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ, kỹ năng thực hiện công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở cho cấp tỉnh” (điểm c khoản 1 Điều 28); Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm “tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ và kỹ năng hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp” (khoản 1 Điều 29). Căn cứ nhiệm vụ được giao, Bộ Tư pháp đã ban hành Chương trình khung bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên (Quyết định số 4077/QĐ-BTP ngày 31/12/2014); Bộ tài liệu nguồn bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên (Quyết định số 1753/QĐ-BTP ngày 22/8/2016), các tài liệu này được đăng tải công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp. Thực hiện Đề án “Nâng cao năng lực đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở giai đoạn 2019 - 2022”, năm 2020, Bộ Tư pháp đã tổ chức 04 Hội nghị tập huấn cho đội ngũ tập huấn viên cấp tỉnh, để đội ngũ này hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ tập huấn viên cấp huyện, hòa giải viên ở cơ sở trên địa bàn; làm điểm tại 24 đơn vị cấp xã thuộc 08 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tại những địa phương làm điểm, Bộ Tư pháp trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức một số lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho hòa giải viên ở cơ sở.
Theo chức năng, nhiệm vụ, Bộ Tư pháp đã xây dựng các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ về PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và đã đăng tải tại địa chỉ: https://pbgdpl.moj.gov.vn/Pages/Trang-chu.aspx. Đề nghị các Bộ, ngành, địa phương tham khảo sử dụng phục vụ cho quá trình triển khai công tác.
Năm 2020, 2021 do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, nhiều Hội nghị tập huấn cho địa phương của Bộ Tư pháp chưa triển khai được. Trong thời gian tới, căn cứ tình hình diễn biến của dịch bệnh, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục tổ chức Hội nghị tập huấn kiến thức pháp luật, kỹ năng PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cho cấp tỉnh.         
- Về vấn đề kinh phí:

  Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, kinh phí cho việc thực hiện các Chương trình, Đề án PBGDPL của cấp nào sẽ do cấp đó chịu trách nhiệm bố trí.
Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương tham mưu về cơ chế kinh phí thực hiện chương trình, đề án. Trên cơ sở tổng hợp báo cáo của địa phương về tình hình thực hiện Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP, Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP, Bộ Tư pháp sẽ đề nghị Bộ Tài chính xây dựng Thông tư thay thế các Thông tư liên tịch này đảm bảo tính khả thi, đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trong tình hình mới.   
IX. CỤC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
1. Năm 2021, dịch bệnh Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, trong đó có hoạt động TGPL, nhất là việc tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý. Do đó, đề nghị Bộ Tư pháp xem xét giảm chỉ tiêu tham gia tố tụng đối với Trợ giúp pháp lý trong năm 2021 (UBND tỉnh Hà Tĩnh).
Trả lời:
Năm 2021, tình hình dịch bệnh Covid-19 ngày càng diễn biến phức tạp, ảnh hưởng không nhỏ đến mọi mặt đời sống kinh tế xã hội, trong đó có việc tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý. Tuy nhiên, đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý đã nỗ lực vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Theo báo cáo về việc thực hiện chỉ tiêu vụ việc tham gia tố tụng năm 2021 của 63 Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, các Trợ giúp viên pháp lý đã thực hiện được 14.780 vụ việc tham gia tố tụng (tăng 1.868 vụ so với năm trước, tương đương tăng 14,5%) . Tính đến ngày 31/10/2021, trên toàn quốc có 643 Trợ giúp viên pháp lý được tính chỉ tiêu tham gia tố tụng thì đến 618 Trợ giúp viên pháp lý hoàn thành chỉ tiêu (chiếm 96,1 %); chỉ có 25 Trợ giúp viên pháp lý không hoàn thành chỉ tiêu (chiếm 3,9%), số lượng Trợ giúp viên pháp lý không đạt chỉ tiêu chủ yếu tập trung ở các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước ở các tỉnh, thành phố áp dụng Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn toàn tỉnh, thành phố trong thời gian dài như thành phố Cần Thơ, Cà Mau, Bến Tre… Bên cạnh đó, trong quá trình chấm điểm thi đua của Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố, Bộ Tư pháp đã rà soát và cân nhắc điều chỉnh việc chấm điểm thi đua và việc thực hiện chỉ tiêu tham gia tố tụng đối với các Trợ giúp viên pháp lý không hoàn thành chỉ tiêu vụ việc do ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh Covid-19 trong một thời gian dài để phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.
2. Đề nghị Bộ Tư pháp tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông về hoạt động TGPL bằng nhiều hình thức để nhân dân, các cơ quan, ban ngành, đoàn thể biết nhiều hơn nữa đến hoạt động TGPL, đặc biệt là người khuyết tật, trẻ em, người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn… (UBND tỉnh Lâm Đồng).
Trả lời:
Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp luôn quan tâm đến công tác truyền thông về TGPL với hình thức đa dạng, phong phú để người dân nói chung và người được TGPL nói riêng tiếp cận với dịch vụ TGPL. Trong năm 2021, Bộ Tư pháp đã phối hợp phát sóng các phóng sự, thông điệp và phỏng vấn... về TGPL trên Đài Truyền thanh, Đài Truyền hình, VOV và Báo Pháp luật Việt Nam.
Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp thường xuyên cập nhật, đăng tải danh sách tổ chức thực hiện TGPL và người thực hiện TGPL, viết và biên tập các tin, bài trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp, Trang Thông tin điện tử TGPL Việt Nam. Đây là kênh thông tin quan trọng để nâng cao nhận thức của người dân, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về hoạt động TGPL.

Có thể nói công tác thông tin truyền thông về TGPL được Bộ Tư pháp quan tâm thực hiện và đạt được nhiều kết quả. Trong năm 2022 và những năm tiếp theo, căn cứ vào điều kiện thực tế, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục thực hiện và đổi mới phương thức, nhất là truyền thông về các vụ việc TGPL thành công hiệu quả, có tầm ảnh hưởng và gây bức xúc trong dư luận xã hội… do Trợ giúp viên pháp lý thực hiện để nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, người dân và các đối tượng được TGPL về vai trò của công tác TGPL, giúp họ hiểu thêm về công việc mà các Trợ giúp viên pháp lý đang làm. Đồng thời, cần tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan, tổ chức, cá nhân thường xuyên tiếp xúc với người dân như già làng, trưởng bản, trưởng thôn, công an xã… trong việc hướng dẫn, giải thích, phát hiện người được TGPL và chuyển gửi đến Trung tâm TGPL nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm nhằm kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Ở địa phương, các Trung tâm TGPL nhà nước cũng cần chủ động, tăng cường hơn nữa công tác truyền thông với nhiều hình thức đa dạng và đổi mới trên các các phương tiện thông tin đại chúng như báo, Đài phát thanh, truyền hình của tỉnh… để người dân kịp thời tìm đến TGPL khi có vướng mắc pháp luật.
3. Đề nghị Bộ Tư pháp tăng cường công tác phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng, công tác kiểm tra việc thực hiện Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018 (UBND tỉnh Lâm Đồng).
Trả lời:
Công tác phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng và trách nhiệm của các ngành đã được quy định cụ thể tại Thông tư liên tịch số 10/2018/ TTLT/BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC. Hằng năm, Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng ở Trung ương xây dựng Kế hoạch hoạt động của Hội đồng trong đó cũng xác định cụ thể các hoạt động để tăng cường phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng và triển khai thực hiện trên toàn quốc. Để công tác phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng ngày càng hiệu quả, Bộ Tư pháp đề nghị Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phát huy vai trò là cơ quan thường trực của Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tại địa phương, theo dõi việc thực hiện công tác này và đôn đốc các ngành thành viên của Hội đồng thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo quy định tại Thông tư. Trong trường hợp có khó khăn, vướng mắc cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng phối hợp liên ngành Trung ương, đề nghị địa phương có văn bản cụ thể.
Về công tác kiểm tra việc thực hiện Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC: Hàng năm, Hội đồng phối hợp liên ngành Trung ương đều thành lập các Đoàn kiểm tra liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tại một số địa phương. Năm 2021, Hội đồng phối hợp liên ngành Trung ương đã có kế hoạch và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tổ chức các Đoàn kiểm tra, tuy nhiên, do dịch bệnh Covid-19 nên Kế hoạch chưa được triển khai đúng thời hạn. Các đoàn kiểm tra sẽ thực hiện trực tiếp khi điều kiện cho phép. Đồng thời, Bộ Tư pháp cũng chỉ đạo thực hiện kiểm tra qua báo cáo bằng văn bản.
4. Đề nghị đối với việc mỗi Trợ giúp viên pháp lý hằng năm phải đảm bảo việc học tập, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ 8 giờ. Bộ Tư pháp (Cục TGPL) nên tổ chức, phần kinh phí dự học do địa phương chi trả cho người tham dự, nhằm đảm bảo việc học tập nghiêm túc và chất lượng (UBND tỉnh Bình Định).
Trả lời:
Nghĩa vụ tham gia tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng bắt buộc hằng năm của Trợ giúp viên pháp lý được thực hiện theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý, Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ TGPL và quản lý chất lượng vụ việc TGPL và Thông tư số 03/2021/TT-BTP ngày 25/5/2021 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15/11/2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động TGPL; Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ TGPL và quản lý chất lượng vụ việc TGPL được thực hiện thông qua nhiều hình thức. Luật và Thông tư quy định các hình thức tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng bắt buộc được tổ chức phù hợp với các nội dung bao gồm: (1) Kiến thức pháp luật cần thiết cho việc thực hiện TGPL; (2) Kỹ năng thực hiện TGPL; (3) Quy tắc nghề nghiệp TGPL. Do đó, việc tập huấn được tổ chức rất linh hoạt, có thể do Bộ Tư pháp tổ chức, cũng có thể do địa phương (Sở Tư pháp hoặc Trung tâm TGPL nhà nước) tổ chức… Kinh phí tổ chức tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng bắt buộc thực hiện theo quy định pháp luật về ngân sách. Hàng năm, Bộ Tư pháp thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng bắt buộc cho Trợ giúp viên pháp lý. Tuy nhiên, do điều kiện nguồn lực để Bộ Tư pháp tổ chức tập huấn cho tất cả các Trợ giúp viên pháp lý là khó khả thi. Vì vậy, Bộ Tư pháp đề nghị các địa phương chủ động tổ chức tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng bắt buộc cho Trợ giúp viên pháp lý và Cục có thể giới thiệu giảng viên trong trường hợp địa phương có nhu cầu.

5. Đề nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu, có văn bản hướng dẫn về thời gian chốt số liệu các vụ việc tiếp nhận trong năm để đảm bảo phù hợp với thời gian chốt số liệu hàng năm của các cơ quan tiến hành tố tụng (đến ngày 30/11 hằng năm) - (UBND tỉnh Bình Định)
Trả lời:
Thời gian chốt số liệu các vụ việc TGPL thực hiện thống nhất theo quy định tại Thông tư số 03/2019/TT-BTP ngày 20/3/2019 quy định một số nội dung về hoạt động thống kê của Ngành Tư pháp. Thời điểm chốt số liệu báo cáo như hiện nay phù hợp với Luật Thống kê năm 2015, thống nhất với thời điểm báo cáo các chỉ tiêu thống kê quốc gia và bảo đảm kịp thời phục vụ báo cáo sơ kết, tổng kết Ngành Tư pháp. Vì vậy, việc thay đổi thời điểm chốt số liệu chưa bảo đảm tính khả thi trong giai đoạn hiện nay.
6.  Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xem xét, đề nghị Quốc hội có lộ trình sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 theo hướng bổ sung: Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố thuộc hộ cận nghèo và người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; người có yêu cầu trợ giúp pháp lý đã đủ 18 tuổi nhưng hành vi phạm tội bị các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý ở thời điểm người đó chưa đủ 18 tuổi vào đối tượng được trợ giúp pháp lý để phù hợp với các quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. Sửa đổi nhóm người được trợ giúp pháp lý theo khoản 7 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 theo hướng không cần điều kiện có khó khăn về tài chính để đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật mới ban hành và nhu cầu trợ giúp pháp lý thực tế của họ trong đời sống (UBND tỉnh Phú Thọ).
Trả lời:
Hiện nay, Bộ Tư pháp đang dự kiến tổ chức sơ kết Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. Trên cơ sở kết quả sơ kết và theo dõi việc thực hiện Luật, Bộ Tư pháp sẽ tổng hợp kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về những bất cập, khó khăn trong quá trình triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và có những nghiên cứu thấu đáo để đề xuất cơ quan có thẩm quyền bổ sung đối tượng được TGPL cũng như tổng thể các vấn đề có liên quan trong quá trình xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý sửa đổi, bổ sung. 
7.  Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu, đề xuất Thủ tướng Chính phủ sớm ban hành văn bản mới thay thế Quyết định số 32/QĐ-TTg ngày 08/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ và hỗ trợ kinh phí cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách (UBND tỉnh Phú Thọ).
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 40 Luật Trợ giúp pháp lý thì “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quản lý nhà nước về TGPL tại địa phương; bảo đảm các điều kiện làm việc cho Trung tâm TGPL nhà nước”, đồng thời về kinh phí cho hoạt động TGPL được quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Trợ giúp pháp lý: “Đối với địa phương chưa tự cân đối ngân sách, ưu tiên bố trí ngân sách từ số bổ sung cân đối ngân sách hàng năm để hỗ trợ cho việc thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý phức tạp, điển hình”.
Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 59/2020/TT-BTC ngày 18/6/2020 của Bộ Tài chính hướng dẫn lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động trợ giúp pháp lý (có hiệu lực thi hành từ 01/09/2020) quy định: “2. Nguồn kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan TGPL nhà nước thuộc cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và được tổng hợp vào dự toán ngân sách hàng năm của cơ quan”. Như vậy, theo các quy định trên thì ngân sách địa phương có trách nhiệm bảo đảm cho các hoạt động TGPL tại địa phương.
Để đảm bảo việc thi hành Luật Trợ giúp pháp lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 4585/BTP-CTGPL đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ bố trí kinh phí bảo đảm cho hoạt động TGPL nói chung theo quy định hiện hành và ưu tiên bố trí kinh phí thực hiện các vụ việc TGPL phức tạp, điển hình theo Điều 5 của Luật Trợ giúp pháp lý khi thực hiện giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 cho cơ quan TGPL ở địa phương.
Hiện Bộ Tư pháp đang phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan nghiên cứu đề xuất chính sách TGPL trong giai đoạn tới.

8. Đề nghị Bộ Tư pháp (Cục TGPL) tham mưu cho các cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các quy định về định mức kinh phí TGPL (như hủy bỏ quy định về số buổi tối đa thanh toán bồi dưỡng vụ việc; tăng mức khoán bồi dưỡng thực hiện các vụ việc phức tạp, điển hình) - (UBND tỉnh Quảng Ninh)
Trả lời:
Khoản 1 Điều 13 Nghị định số 144/2017/NĐ-CP quy định: “Khi thực hiện vụ việc TGPL bằng hình thức tham gia tố tụng, luật sư ký hợp đồng thực hiện TGPL với Trung tâm được hưởng thù lao theo buổi làm việc (1/2 ngày làm việc) là 0,38 mức lương cơ sở/01 buổi làm việc nhưng tối đa không quá 30 buổi làm việc/01 vụ việc hoặc theo hình thức khoán chi vụ việc với mức tối thiểu bằng 03 mức lương cơ sở/01 vụ việc và mức tối đa không quá 10 mức lương cơ sở/01 vụ việc (căn cứ vào tính chất phức tạp, yêu cầu tố tụng và nội dung của từng vụ việc cụ thể)”. Trên cơ sở đó, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 02/2021/TT-BTP ngày 25/05/2021 hướng dẫn cách tính thời gian theo buổi làm việc thực tế và khoán chi vụ việc TGPL để làm căn cứ chi trả thù lao, bồi dưỡng thực hiện vụ việc TGPL theo hình thức tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng. Do đó, đề xuất hủy bỏ quy định về số buổi tối đa thanh toán bồi dưỡng vụ việc; tăng mức khoán bồi dưỡng thực hiện các vụ việc phức tạp, điển hình, Bộ Tư pháp sẽ tổng hợp và nghiên cứu trong quá trình theo dõi việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về TGPL bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn.
9. Đề nghị Bộ Tư pháp tiếp tục tăng cường công tác tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác TGPL (UBND tỉnh Quảng Ninh).
Trả lời:
Để triển khai hiệu quả Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, hàng năm, Bộ Tư pháp đã tổ chức nhiều lớp tập huấn cho đội ngũ trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện TGPL (trung bình 10 - 15 lớp/năm). Nội dung tập trung các kỹ năng TGPL trong tố tụng hình sự, dân sự, hành chính và kỹ năng thực hiện TGPL cho các đối tượng đặc thù như người khuyết tật, trẻ em... 06 tháng đầu năm 2021, việc tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng thực hiện TGPL bị ảnh hưởng do đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, 06 tháng cuối năm 2021, thông qua các phần mềm kỹ thuật, Bộ Tư pháp đã tổ chức được các lớp tập huấn kỹ năng thực hiện TGPL trong một số lĩnh vực như hình sự, dân sự, lao động, đất đai và kỹ năng thực hiện TGPL cho người khuyết tật cho đội ngũ người thực hiện TGPL ở địa phương bằng hình thức trực tuyến hoặc trực tuyến kết hợp trực tiếp tại một số địa phương. Trong đó tập trung vào những vấn đề, mối quan hệ có thể phát sinh trong và sau dịch bệnh Covid-19 để cập nhật những kiến thức, kỹ năng mới cho đội ngũ người thực hiện TGPL trên toàn quốc.
Trong thời gian tới, khi tình hình dịch bệnh được dần kiểm soát, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ người thực hiện TGPL thông qua hình thức trực tiếp hoặc trực tiếp kết hợp với trực tuyến.

10. Đề nghị Bộ Tư pháp hoàn thiện và nâng cao chất lượng Hệ thống quản lý tổ chức và hoạt động TGPL, tổ chức kiểm tra kết quả tập sự TGPL (UBND tỉnh Quảng Ninh)
Trả lời:
- Về hoàn thiện và nâng cao chất lượng Hệ thống quản lý tổ chức và hoạt động TGPL
Hệ thống quản lý tổ chức và hoạt động TGPL (gọi tắt là Hệ thống quản lý TGPL) là phần mềm được Bộ Tư pháp xây dựng và chính thức triển khai trên toàn quốc từ tháng 01/2019. Hệ thống quản lý TGPL cho phép cập nhật chi tiết thông tin tổ chức, nhân sự, vụ việc, việc TGPL. Đến nay, phần mềm này cơ bản đã đáp ứng yêu cầu, giúp quản lý, cho phép trích xuất số liệu thống kê theo quy định của ngành Tư pháp và cung cấp số liệu cho các báo cáo. Mặc dù thời gian qua, Bộ Tư pháp đã kịp thời hỗ trợ kỹ thuật, hoàn thiện một bước các chức năng trên phần mềm, tuy nhiên, do hoạt động nghiệp vụ thực hiện TGPL trong thực tế đa dạng, phức tạp nên có một số chức năng chưa đáp ứng được nhu cầu phát sinh. Mặt khác, các văn bản pháp luật quy định về hoạt động TGPL đã có một số điều chỉnh mới nhưng chưa kịp cập nhật trên Hệ thống.

Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp tiếp tục tổng hợp các vướng mắc, kiến nghị của địa phương và nghiên cứu, cập nhật bổ sung các tính năng mới để vận hành hiệu quả Hệ thống quản lý TGPL.
- Về việc tổ chức kiểm tra kết quả tập sự TGPL
Để chuẩn bị cho việc tổ chức kỳ kiểm tra kết quả tập sự TGPL năm 2021, ngày 31/3/2021, Bộ Tư pháp (Cục TGPL) đã có Công văn số 126/CTGPL-VP gửi các địa phương yêu cầu đăng ký số lượng người tham dự kỳ kiểm tra tập sự TGPL năm 2021, qua tổng hợp có 62 người/34 tỉnh, thành phố đăng ký tham dự kiểm tra. Cục TGPL đã chủ động xây dựng dự thảo Kế hoạch để chuẩn bị cho việc kiểm tra kết quả tập sự TGPL năm 2021 từ tháng 04/2021. Tuy nhiên, do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp từ cuối tháng 4/2021 đến nay, Bộ Tư pháp thống nhất lùi thời điểm kiểm tra kết quả tập sự TGPL đến đầu năm 2022 khi tình hình dịch bệnh đã được kiểm soát tốt hơn.

X. VỤ PHÁP LUẬT DÂN SỰ - KINH TẾ
1. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về các vụ việc và vướng mắc pháp lý, bởi đây là nguồn dữ liệu rất quan trọng, có ý nghĩa to lớn không chỉ với hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa với hoạt động của nghề luật sư, hoạt động trợ giúp pháp lý, hoạt động xét xử, giảng dạy và nghiên cứu khoa học pháp lý (UBND tỉnh Bình Định).
Đề nghị Bộ Tư pháp tăng cường công tác tập huấn nghiệp vụ chuyên môn cho mạng lưới tư vấn pháp luật cấp tỉnh; trong đó tập trung vào các chuyên đề bồi dưỡng kiến thức pháp luật kinh doanh cho doanh nghiệp với nội dung là các lĩnh vực pháp luật liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; tăng cường nguồn lực cho hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp, bao gồm nguồn lực con người và nguồn lực tài chính, vật chất (UBND tỉnh Bình Định).
Đề nghị Bộ Tư pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; hoàn thiện trang thông tin điện tử hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Tăng cường và đổi mới nội dung các hoạt động tọa đàm, đối thoại, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp, người làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (UBND tỉnh Hải Dương).
Trả lời:
Ngày 19/01/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 81/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2021-2025. Ngày 24/6/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1006/QĐ-TTg về việc bổ sung dự toán năm 2021 cho Bộ Tư pháp để thực hiện Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2021 - 2025 (Chương trình HTPLLN) và thực hiện Đề án thể chế hóa đầy đủ quyền sở hữu tài sản của tổ chức, cá nhân. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp gấp rút chỉ đạo kiện toàn nhân sự Ban Quản lý Chương trình HTPLLN, ban hành các kế hoạch, quy chế, triển khai các hoạt động theo kế hoạch năm 2021 của Chương trình HTPLLN để triển khai Quyết định số 81/QĐ-TTg và Quyết định số 1006/QĐ-TTg, trong đó có các hoạt động như: xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu về vướng mắc pháp lý, vụ việc, bản án, quyết định của tòa án và nhóm nội dung cung cấp thông tin pháp lý; tiếp tục nghiên cứu để nâng cấp Trang tin hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên Cổng thông tin Bộ Tư pháp; tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa và người làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo quy định; tổ chức các hội nghị đối thoại trực tiếp về các vấn đề các hội nghị đối thoại trực tiếp về các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp... Mặc dù năm 2021 là năm đầu tiên triển khai Quyết định số 81/QĐ-TTg, trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp nhưng nhiều hoạt động của Chương trình đã kịp thời linh hoạt chuyển ðổi và triển khai nhiều hoạt ðộng bồi dýỡng kỹ nãng, nghiệp vụ, kiến thức pháp luật dýới hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đáp ứng nhu cầu hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp phù hợp với bối cảnh hiện nay với các nội dung chủ yếu là các lĩnh vực pháp luật liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, triển khai Nghị quyết số 55/NQ-CP ngày 20/5/2021 của Chính phủ về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết số 99/NQ-CP ngày 30/8/2021 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2021-2026 thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, Nghị quyết số 105/NQ-CP ngày 09/9/2021 của Chính phủ về hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trong bối cảnh dịch Covid-19, Bộ Tư pháp đang xây dựng “Đề án nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp giai đoạn 2021-2030” dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ Quý IV/2022.
Đồng thời, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Tài chính để Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 64/2021/TT-BTP ngày 29/7/2021 hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước phục vụ hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

2. Tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị định số 55/2019/NĐ-CP ngày 24/6/2019 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy định một trong những hoạt động của Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là “hoạt động tư vấn pháp luật”, tuy nhiên nội dung này chưa được quy định cụ thể nên khó khăn cho các đơn vị, địa phương trong việc triển khai thực hiện. Do đó, đề nghị Bộ Tư pháp có hướng dẫn cụ thể đối với nội dung này (UBND tỉnh Hà Tĩnh).
Trả lời:
Về kiến nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nêu trên, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau: “hoạt động tư vấn pháp luật” đã được quy định cụ thể tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị định số 55/2019/NĐ-CP. Theo đó: “Hoạt động tư vấn pháp luật, bao gồm đối thoại, giải quyết các vướng mắc pháp lý cho doanh nghiệp và các hoạt động tư vấn pháp luật khác phù hợp với các quy định của pháp luật trên cơ sở nhu cầu của doanh nghiệp nhỏ và vừa và nguồn lực theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này”. “Nguồn lực theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này” nêu trên là: “Nguồn lực của bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương cấp tỉnh, tổ chức đại diện cho doanh nghiệp” (điểm c khoản 1 Điều 10 Nghị định số 55/2019/NĐ-CP).
3. Đề nghị Bộ Tư pháp xem xét, ghi nhận tổ chức đại diện cho doanh nghiệp là chủ thể độc lập thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhằm phát huy vai trò của các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (UBND tỉnh Hải Dương).
Trả lời:
Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 55/2019/NĐ-CP quy định đối tượng áp dụng của Nghị định là “tổ chức đại diện cho doanh nghiệp”. Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 55/2019/NĐ-CP quy định: “Hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa được thực hiện trên cơ sở phối hợp giữa cơ quan nhà nước với tổ chức đại diện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa...”.
Trên cơ sở những quy định trên cho thấy, tổ chức đại diện cho doanh nghiệp có hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là hội viên của tổ chức đó; có thể thực hiện trên cơ sở sự phối hợp giữa cơ quan nhà nước với tổ chức đại diện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

4. Đề nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu ban hành khung tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (UBND tỉnh Hải Dương).
Trả lời:
Bộ Tư pháp tiếp thu đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương và dự kiến đưa vào nội dung nghiên cứu để xây dựng dự thảo “Đề án nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp giai đoạn 202 -2030” hiện đang được Bộ Tư pháp xây dựng và dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ Quý IV/2022.
5. Đề nghị Bộ Tư pháp có hướng dẫn cụ thể việc xây dựng đội ngũ cán bộ đầu mối, tư vấn viên pháp luật để thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý tại địa phương; xây dựng mạng lưới tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp với sự tham gia của luật sư hướng tới mục tiêu Nhà nước sẽ thực hiện quản lý nhà nước về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp, các luật sư là đơn vị trực tiếp thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (UBND tỉnh Hải Dương).
Trả lời:
Việc xây dựng đội ngũ cán bộ đầu mối và xây dựng Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở địa phương để thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý tại địa phương thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (khoản 1 Điều 15 Nghị định số 55/2019/NĐ-CP). Việc xây dựng, phê duyệt Danh sách mạng lưới tư vấn viên pháp luật với sự tham gia của các Luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn viên pháp luật, trung tâm tư vấn pháp luật... hiện đang được quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định số 55/2019/NĐ-CP; thuộc thẩm quyền của bộ, cơ quan ngang bộ theo lĩnh vực quản lý của bộ, cơ quan ngang bộ (khoản 1 Điều 9 Nghị định số 55/2019/NĐ-CP).
6. Đề nghị Bộ Tư pháp có hướng dẫn thống nhất về việc xã hội hoá công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tăng cường hỗ trợ kinh phí, xã hội hoá công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (UBND tỉnh Hải Dương).
Trả lời:
Bộ Tư pháp tiếp thu ý kiến của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương và đưa vào nội dung nghiên cứu hoàn thiện trong dự thảo Đề án “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp giai đoạn 2021 - 2030” nêu trên.
XI. CỤC KẾ HOẠCH - TÀI CHÍNH
Đề nghị Bộ Tư pháp xem xét, sửa đổi Điều 6 Thông tư số 03/2019/TT-BTP theo hướng quy định việc báo báo và thống kê số liệu chính thức của kỳ báo cáo 6 tháng, năm là số liệu báo cáo tổng kết (chính thức lần 1), vì quy định nhiều thời gian như hiện nay dễ dẫn đến sai số, việc các địa phương đánh giá quá trình thực hiện công tác tư pháp thiếu chính xác. Vì vậy, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng, hiệu quả hoạch định chính sách, đường lối, phương hướng cũng như dự báo tổng thể về chương trình, dự án xây dựng pháp luật của ngành và của Chính phủ (UBND tỉnh Kiên Giang).
Trả lời:
Theo Điều 6 Thông tư số 03/2019/TT-BTP ngày 20/3/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định một số nội dung về hoạt động thống kê của ngành Tư pháp, số lần phải báo cáo thống kê trong 01 năm công tác bao gồm: báo cáo thống kê định kỳ 6 tháng, báo cáo năm và báo cáo năm chính thức. 
Thực tế triển khai Thông tư số 03/2019/TT-BTP đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế, trong đó có bất cập về kỳ báo cáo và thời điểm báo cáo. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang chỉ đạo nghiên cứu, xem xét đề xuất sửa đổi, bổ sung Thông tư 03/2019/TT-BTP. Bộ Tư pháp ghi nhận kiến nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang, trong thời gian tới sẽ nghiên cứu để có giải pháp phù hợp trong quá trình sửa đổi Thông tư để khắc phục những bất cập nêu trên.

XII. CỤC CON NUÔI
1. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu Chính phủ sửa đổi, bổ sung các quy định về nuôi con nuôi, cụ thể: Bổ sung trình tự, thủ tục đăng ký bổ sung người nhận con nuôi đối với trường hợp đăng ký nuôi con nuôi của một người độc thân, sau đó họ kết hôn thì vợ hoặc chồng của họ cũng được xác lập quan hệ nuôi con nuôi để trở thành mẹ hoặc cha nuôi, đảm bảo theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi “Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng” (UBND tỉnh Đồng Tháp).
Trả lời:
Khoản 3 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi quy định một người chỉ có thể làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng nhằm tránh việc trẻ em chỉ được giải quyết cho làm con nuôi của người vợ hoặc người chồng. Đối với trường hợp người độc thân nhận con nuôi thì con nuôi được coi là con riêng của người này. Để làm phát sinh mối quan hệ cha/mẹ và con giữa con nuôi với người vợ/chồng của người đã nhận con nuôi thì người vợ/chồng này phải thực hiện thủ tục nhận con nuôi riêng của chồng/vợ làm con nuôi theo diện cha dượng, mẹ kế nhận con riêng của vợ, chồng làm con nuôi. Điều kiện của trẻ em được nhận làm con nuôi và của người nhận con nuôi đã được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 8 và Điều 14 của Luật Nuôi con nuôi. Hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi được hiện như thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi đối với trường hợp người độc thân nhận con nuôi.
2. Kiến nghị bổ sung trình tự, thủ tục giải quyết trường hợp các bên tự nguyện yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi do cha mẹ nuôi không đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, hoặc cha mẹ nuôi chết, mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự trong khi con nuôi chưa thành niên để đảm bảo con nuôi được người khác nhận nuôi dưỡng (UBND tỉnh Đồng Tháp).
Trả lời:
Hiện nay mặc dù căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi đã được quy định tại Điều 25 Luật Nuôi con nuôi nhưng trên thực tế phát sinh những trường hợp cần được xem xét chấm dứt việc nuôi con nuôi để bảm đảm quyền và lợi ích của con nuôi (trong đó có trường hợp cha mẹ nuôi không còn đủ khả năng nuôi dưỡng hoặc cha mẹ nuôi chết như kiến nghị của tỉnh Đồng Tháp). Vào năm 2019, Bộ Tư pháp (Cục Con nuôi) đã tổ chức buổi họp liên Ngành gồm đại diện các đơn vị thuộc Bộ và đại diện Tòa án nhân dân tối cao để trao đổi về vấn đề này. Các đại biểu tham dự buổi họp đều cho rằng, việc chấm dứt nuôi con nuôi trong một số trường hợp là cần thiết để đảm bảo lợi ích của trẻ em, chẳng hạn như trường hợp con nuôi chưa thành niên mà cha mẹ nuôi đã chết hoặc không còn đủ điều kiện nuôi dưỡng. Tuy nhiên, việc chấm dứt nuôi con nuôi chỉ có thể được thực hiện khi có căn cứ được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật để tránh sự tùy tiện, lạm dụng việc chấm dứt nuôi con nuôi không vì lợi ích của trẻ em. Do đó vấn đề này sẽ được nghiên cứu, đề xuất khi sửa đổi, bổ sung Luật Nuôi con nuôi.
3. Đề nghị Bộ Tư pháp hướng dẫn cụ thể về việc xác định điều kiện nhận con nuôi, như điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi, tư cách đạo đức (UBND tỉnh Đồng Tháp).
Trả lời:
Hiện nay điểm c, khoản 1 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi mới chỉ quy định về mặt nguyên tắc rằng người nhận con nuôi phải có điều điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi. Để hướng dẫn nghiệp vụ đối với nội dung này, biểu mẫu Văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi ban hành kèm Thông tư số 10/2020/TT-BTP ngày 28/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành, hướng dẫn việc ghi chép, sử dụng, quản lý và lưu trữ sổ, mẫu giấy tờ, hồ sơ nuôi con nuôi  (sau đây gọi là Thông tư số 10/2020/TT-BTP) đã nêu các tiêu chí đánh giá tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi. Mặt khác, để tạo thuận lợi cho công chức Tư pháp - Hộ tịch trong quá trình giải quyết nghiệp vụ, Bộ Tư pháp đã có hướng dẫn việc xác minh, đánh giá hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế, tư cách đạo đức cũng như xác nhận người nhận con nuôi đủ điều kiện nhận con nuôi trong Cẩm nang hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước dành cho công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã (xuất bản năm 2020 và đã phát hành gửi Sở Tư pháp và các xã/phường trên toàn quốc đồng thời đăng tải trên trang Thông tin nuôi con nuôi). Công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã khi giải quyết có thể căn cứ vào các tiêu chí đánh giá tại biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 10/2020/TT-BTP và tham khảo các hướng dẫn tại Cẩm nang để thực hiện.
4. Kiến nghị về bổ sung quy trình đăng ký nuôi con nuôi trong trường hợp người cho con nuôi là người đang chấp hành hình phạt tù, vì thực tế có phát sinh trường hợp người cho con nuôi là người đang chấp hành hình phạt tù, khi đăng ký nuôi con nuôi thì không thể có mặt tại UBND cấp xã để làm thủ tục, nên việc giải quyết đăng ký cho, nhận con nuôi không thực hiện được (Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp),
Trả lời:
Đây là vấn đề phát sinh trên thực tiễn mà Luật Nuôi con nuôi chưa dự liệu.  Trong khi chờ đợi hoàn thiện pháp luật, để tháo gỡ vướng mắc trong công tác giải quyết việc nuôi con nuôi, Bộ Tư pháp đã có hướng dẫn cụ thể tại Cẩm nang hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước dành cho công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã. Theo đó, trường hợp cha/ mẹ đẻ của trẻ em đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam thì Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị giám thị trại giam tạo điều kiện, hỗ trợ để công chức Tư pháp - Hộ tịch lấy ý kiến của cha/mẹ đẻ về việc cho trẻ em làm con nuôi.
Đối với việc tổ chức đăng ký nuôi con nuôi, do cha/mẹ đẻ đang chấp hành hình phạt tù nên không thể có mặt để giao nhận con nuôi theo quy định, vì vậy có thể cho phép người giám hộ của trẻ em tham gia việc giao nhận con nuôi.

5. Đề nghị Bộ Tư pháp điều chỉnh biểu mẫu tại Thông tư số 10/2020/TT-BTP ngày 28/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành, hướng dẫn việc ghi chép, sử dụng, quản lý và lưu trữ sổ, mẫu giấy tờ, hồ sơ nuôi con nuôi nhằm phù hợp quy định tại Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư (UBND tp. Đà Nẵng).
Trả lời:
Qua rà soát các biểu mẫu về nuôi con nuôi được ban hành kèm theo Thông tư số 10/2020/TT-BTP, Bộ Tư pháp thấy rằng đây là kiến nghị liên quan đến mục ký hiệu của biểu mẫu Văn bản xác nhận trẻ em đủ điều kiện làm con nuôi nước ngoài (biểu mẫu thứ 5, Phụ lục 3 của Thông tư số 10/2020/TT-BTP).  Mục ký hiệu của biểu mẫu chưa phù hợp với hướng dẫn tại Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư. Đây là vấn đề thể thức văn bản, nội dung của biểu mẫu không trái quy định pháp luật. Vì vậy, Bộ Tư pháp đề nghị trước mắt áp dụng hướng dẫn tại Nghị định số 30/2020/NĐ-CP về về công tác văn thư. Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục rà soát và báo cáo Lãnh đạo Bộ về việc sửa đổi biểu mẫu này. 
6. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trao đổi, làm việc với Trung ương Giáo hội Phật giáo VN nhằm tác động đến các cơ sở thờ tự, tôn giáo đang nuôi dưỡng những trẻ em mồ côi,… về mục đích, ý nghĩa của việc cho nhận nuôi con nuôi để các cơ sở này đồng ý cho những trẻ em này làm con nuôi. Do hiện nay, số lượng trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi đang được các cơ sở nuôi dưỡng ngoài công lập, cơ sở thờ tự, tôn giáo là khá nhiều, nhưng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về: Chăm sóc, nuôi dưỡng, tìm gia đình thay thế cho trẻ, cũng như chưa có các chế tài đối với những nơi này khi không giải quyết tìm gia đình thay thế cho những trẻ em lớn tuổi, trẻ em khuyết tật, mắc bệnh hiểm nghèo (UBND tỉnh Đồng Tháp).
Trả lời:
Trong quá trình kiểm tra, khảo sát, đánh giá việc nuôi con nuôi ở địa phương, Bộ Tư pháp nhận thấy có một số lượng lớn trẻ em đang sống ở các cơ sở tôn giáo mà không được giải quyết cho làm con nuôi. Năm 2018, đại biểu Quốc hội Võ Thị Như Hoa đã có văn bản chất vấn Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về vấn đề này. Ngày 13/7/2018, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã có Công văn số 2821/LĐTBXH-BTXH gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương đề nghị rà soát, chấn chỉnh hoạt động của các cơ sở chăm sóc đối tượng bảo trợ xã hội thuộc các tổ chức tôn giáo. Trên cơ sở kiến nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để thu xếp buổi làm việc với các cơ quan liên quan, trong đó có Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhằm trao đổi những giải pháp về thể chế, có các biện pháp vận động người đứng đầu cơ sở tôn giáo thực hiện việc tìm gia đình thay thế cho trẻ em theo quy định pháp luật, đảm bảo trẻ em được sống, được nuôi dưỡng và phát triển trong môi trường gia đình theo đúng nghĩa.
XIII. CỤC BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC
1.  Đề nghị Bộ Tư pháp tiếp tục tổ chức tập huấn về công tác bồi thường nhà nước; đồng thời phổ biến những kinh nghiệm thực tế của địa phương, cơ quan khác để tham khảo, học tập (UBND các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Lâm Đồng).
Trả lời:
Sau khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) có hiệu lực (từ ngày 01/7/2018), trong năm 2018, 2019, 2020, 2021 Bộ Tư pháp (Cục Bồi thường nhà nước) đã tổ chức 27 hội nghị tập huấn ( Năm 2018: 11 Hội nghị; năm 2019: 06 Hội nghị, năm 2020: 04 hội nghị và năm 2021: 06 Hội nghị bằng hình thức trực tuyến qua Zoom). Bên cạnh đó, hàng năm Bộ Tư pháp đã cử 45 lượt cán bộ Lãnh đạo cấp Cục và cấp Phòng làm báo cáo viên tại Hội nghị tập huấn tại một số địa phương (năm 2018 có 11 địa phương; năm 2019, có 01 bộ và 06 địa phương; năm 2020 có 06 địa phương; năm 2021 có 03 địa phương).
Như vậy, kể từ khi Luật TNBTCNN năm 2017 có hiệu lực đến nay, việc tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước đã được Bộ Tư pháp triển khai hằng năm. Tuy nhiên, với nguồn kinh phí hạn hẹp, Bộ Tư pháp chưa tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước một cách sâu, rộng. Do đó, để thực hiện hiệu quả công tác này, bên cạnh trách nhiệm của Bộ Tư pháp, đề nghị bộ, ngành và đặc biệt là phát huy trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trên cả nước trong chỉ đạo công tác bồi thường nhà nước (quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 73 Luật TNBTCNN năm 2017) có sự chủ động trong bố trí kinh phí và chỉ đạo Sở Tư pháp tập huấn nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước tại địa phương. Bộ Tư pháp sẽ phối hợp cử chuyên gia tổ chức và báo cáo viên tham gia hỗ trợ, đồng thời cung cấp tài liệu để các bộ, ngành địa phương chủ động tổ chức các lớp tập huấn tại cơ quan, địa phương, ngành mình.
Dự kiến trong năm 2022, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu kỹ năng nghiệp vụ quản lý nhà nước, kỹ năng giải quyết bồi thường, hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường cho đội ngũ được giao thực hiện công tác bồi thường nhà nước tại 63 tỉnh, thành phố trên cả nước. Theo đó, Bộ Tư pháp sẽ đổi mới, áp dụng hình thức tập huấn trực tuyến để đáp ứng yêu cầu của các địa phương trong điều kiện diễn biến phức tạp của dịch Covid-19.

2. Đề nghị các cơ quan Trung ương cần có quy định về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan về quản lý nhà nước trong công tác bồi thường nhà nước. Cần xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật về bồi thường nhà nước nhằm giải quyết những vướng mắc bất cập còn tồn tại (UBND các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Lâm Đồng).
Trả lời:
- Về việc cần có quy định về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan về quản lý nhà nước trong công tác bồi thường nhà nước
Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2017 (Luật TNBTCNN) quy định rõ trách nhiệm của Bộ Tư pháp (Khoản 2, Điều 73 Luật TNBTCNN); Ủy Ban nhân dân cấp tỉnh (Khoản 2, Điều 73 Luật TNBTCNN); Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 74, Luật TNBTCNN); các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (Điều 75, Luật TNBTCNN) trong việc thực hiện, phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước. Bên cạnh đó, Thông tư số 08/2019/TT-BTP ngày 10/12/2019 của Bộ Tư pháp quy định biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước của Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án và Thông tư số 09/2019/TT-BTP ngày 10/12/2019 của Bộ Tư pháp quy định biện pháp hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước cũng đã quy định việc các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.
Quá trình triển khai thi hành các văn bản nêu trên, một số tỉnh, thành phố đã chủ động xây dựng Quy chế phối hợp thực hiện công tác bồi thường nhà nước giữa Sở Tư pháp, các cơ quan tòa án, viện kiểm sát, thi hành án dân sự, Công an tỉnh nhằm thực hiện hoạt động này (Bình Phước, Sóc Trăng, Bến Tre, Quảng Ngãi, …) cho thấy có hiệu quả trong việc phối hợp thực hiện công tác bồi thường nhà nước được nâng lên rõ rệt. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tổng hợp, nghiên cứu việc thực hiện Quy chế phối hợp tại các địa phương nêu trên để phổ biến, nhân rộng.
- Việc xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật về bồi thường nhà nước
Luật TNBTCNN năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành, bao gồm 01 Nghị định và 04 Thông tư của Bộ Tư pháp được ban hành đã sửa đổi, bổ sung, khắc phục được nhiều hạn chế, bất cập của Luật TNBTCNN năm 2009. Trong năm 2021, để tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Bộ Tư pháp đã có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân tối cao xây dựng văn bản hướng dẫn nội dung quy định tại Điều 55 Luật TNBTCNN năm 2017 và ban hành văn bản góp ý Dự thảo Nghị quyết của Ủy ban thẩm phán - Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn nội dung quy định tại Điều 55 Luật TNBTCNN năm 2017 (Công văn 389/BTNN-NV2 ngày 15/11/2021). Đến nay, về cơ bản hệ thống pháp luật về bồi thường nhà nước đã được ban hành đầy đủ, đồng bộ. Trong thời gian tới, thực hiện công tác sơ kết 05 năm thi hành Luật TNBTCNN năm 2017, trong quá trình tổ chức, thực hiện Luật TNBTCNN và văn bản hướng dẫn thi hành nếu có vướng mắc, khó khăn phát sinh, đề nghị địa phương tổng hợp, báo cáo Bộ Tư pháp để kịp thời hướng dẫn và nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện các biện pháp tổ chức thi hành luật hiệu quả.

3.  Đề nghị Bộ Tư pháp cần có cơ chế đảm bảo biên chế kiện toàn đội ngũ công chức các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong quản lý nhầ nước về công tác bồi thường nhà nước (UBND các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Lâm Đồng).
Trả lời:
Tại Khoản 2 Điều 73 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước ở địa phương, Sở Tư pháp là cơ quan giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ này. Tuy nhiên, qua nắm bắt tình hình tại các địa phương thì đa số các Sở Tư pháp chưa có biên chế chuyên trách để thực hiện nhiệm vụ này. Công chức được giao thực hiện công tác bồi thường nhà nước tại địa phương thường không ổn định, thường xuyên bị thay đổi, dẫn đến việc tham mưu thực hiện công tác này tại địa phương chưa hiệu quả. Trước yêu cầu giảm biên chế hiện nay, thì đây là một khó khăn của hầu hết các địa phương. Trong bối cảnh đó, đề nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần quan tâm, ưu tiên bố trí biên chế chuyên trách để thực hiện công tác bồi thường nhà nước tại các Sở Tư pháp từ nguồn biên chế của tỉnh. Đồng thời, cơ cấu lại đội ngũ pháp chế các Sở, ngành để tiếp tục giúp công tác tư pháp nói chung, công tác bồi thường nhà nước nói riêng được triển khai đồng bộ, hiệu quả.
XIV. VỤ TỔ CHỨC CÁN BỘ
1. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ có cơ chế kiện toàn đội ngũ công chức làm công tác xử lý vi phạm hành chính tại Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, bộ phận Tư pháp - Hộ tịch cấp xã và tổ chức pháp chế các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh (UBND tỉnh Bình Định).
Bộ Tư pháp cần phối hợp với cơ quan có liên quan xây dựng cơ chế đảm bảo biên chế để kiện toàn đội ngũ công chức các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước (UBND tỉnh Bình Thuận).
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 62/2020/NĐ-CP ngày 01/6/2020 về vị trí việc làm và biên chế công chức thì căn cứ để xác định biên chế công chức là (i) Vị trí việc làm và khối lượng công việc của từng vị trí việc làm; (ii) Mức độ hiện đại hóa về trang thiết bị, phương tiện làm việc và ứng dụng công nghệ thông tin (iii) Thực tế việc sử dụng biên chế công chức được giao; (iv) Đối với cơ quan, tổ chức ở địa phương, ngoài các căn cứ quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều này còn phải căn cứ vào quy mô dân số, diện tích tự nhiên, số lượng đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và đặc điểm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Như vậy, một trong những căn cứ để xác định biên chế là Vị trí việc làm và khối lượng công việc của từng vị trí việc làm, hiện nay, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Nội vụ, Ủy ban nhân dân, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn vị trí việc làm công chức nghiệp vụ chuyên ngành Tư pháp và định mức biên chế trong định mức biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức thuộc ngành Tư pháp và Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn về định mức số lượng người làm việc, vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành Tư pháp. Các Thông tư đang được chỉnh lý, hoàn thiện và thực hiện quy trình thẩm định trước khi Bộ trưởng xem xét, ký bàn hành. Sau khi 02 Thông tư được ban hành sẽ tạo sơ sở pháp lý cho Bộ, ngành Tư pháp trong việc quan xây dựng cơ chế đảm bảo biên chế để kiện toàn đội ngũ công chức các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong quản lý nhà nước trong đó có biên chế để kiện toàn đội ngũ công chức các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.
Đối với việc kiện toàn đội ngũ cán bộ pháp chế: Trong thời gian tới, khi sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu, đề xuất với Chính phủ sửa đổi nhiều nội dung quan trọng như: tổ chức bộ máy pháp chế ở địa phương, chức năng, nhiệm vụ pháp chế, chế độ hỗ trợ cho người làm công tác pháp chế đảm bảo nhân lực để thực hiện hiệu quả công tác pháp chế trên cả nước.

2. Từ khó khăn trong công tác xây dựng Ngành theo Nghị định số 107/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Thông tư số 07/2020/TT-BTP ngày 21/12/2020 của Bộ Tư pháp Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân, Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ nghiên cứu, xây dựng Đề án biên chế, vị trí việc làm trong từng lĩnh vực gắn với tiêu chuẩn chức danh, trình độ để bố trí biên chế thực hiện hiệu quả nhiệm vụ, đảm bảo đồng bộ và phù hợp với thực tiễn (UBND tỉnh Bình Dương).
Đề nghị Bộ Tư pháp sớm ban hành Dự thảo Thông tư của Bộ Tư pháp hướng dẫn vị trí việc làm công chức nghiệp vụ chuyên môn ngành Tư pháp và định mức biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức thuộc ngành Tư pháp (UBND tỉnh Sơn La).
Đề nghị Bộ Tư pháp sớm ban hành Dự thảo Thông tư của Bộ Tư pháp hướng dẫn vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý và chức danh nghề nghiệp chuyên ngành, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và định mức số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành Tư pháp (UBND tỉnh Sơn La).
Trả lời:
Triển khai thực hiện Nghị định số 62/2020/NĐ-CP ngày 01/6/2020 của Chính phủ về vị trí việc làm và biên chế công chức, Nghị định số 106/2020/NĐ-CP ngày 10/9/2020 của Chính phủ về vị trí việc làm và số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập, trong năm 2021, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Nội vụ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Sở Tư pháp và các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng: (i)Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn vị trí việc làm công chức nghiệp vụ chuyên ngành Tư pháp và định mức biên chế trong các cơ quan, tổ chức thuộc ngành Tư pháp và (ii) Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý và chức danh nghề nghiệp chuyên ngành, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và định mức số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành Tư pháp. Hiện nay, các Thông tư đang được chỉnh lý, hoàn thiện và thực hiện quy trình thẩm định trước khi Bộ trưởng xem xét, ký bàn hành. Sau khi có hướng dẫn của Bộ Nội vụ về vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý, vị trí việc làm chuyên môn dùng chung, vị trí việc làm hỗ trợ, phục vụ và hướng dẫn của các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực về vị trí việc làm nghiệp vụ chuyên ngành (trong đó có 02 Thông tư nêu trên của Bộ Tư pháp) sẽ tạo sơ sở pháp lý cho Bộ, ngành nói chung và Bộ, ngành Tư pháp nói riêng trong việc xây dựng Đề án vị trí việc làm, bố trí biên chế, bổ nhiệm, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ… được bài bản, khoa học, hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật.
Câu 3. Quan tâm việc ban hành các văn bản quy định, hướng dẫn về tổ chức bộ máy, biên chế, vị trí việc làm trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành tư pháp, đảm bảo phù hợp, tăng tính chủ động, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, vị trí vai trò của ngành Tư pháp (UBND tp. Hà Nội).
Trả lời:
Triển khai thực hiện Nghị định số 107/2020/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Nghị định số 108/2020/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 07/2020/TT-BTP ngày 21/12/2020 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Nghị định số 107/2020/NĐ-CP không giao thẩm quyền cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong việc hướng dẫn về cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và giao thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh "quyết định cơ cấu tổ chức, số lượng Phó Giám đốc của Sở phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và các tiêu chí quy định tại Nghị định này".
Tuy nhiên, để kịp thời kiện toàn chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Tư pháp địa phương, Bộ Tư pháp đã có Quyết định số 496/QĐ-BTP ngày 29/3/2021 ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Thông tư số 07/2020/TT-BTP và Công văn số 1518/BTP-TCCB ngày 18/5/2021 về hướng dẫn triển khai thực hiện Thông tư số 07/2020/TT-BTP. Đề nghị Sở Tư pháp tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh về ban hành Quyết định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và quan tâm sắp xếp tổ chức bộ máy của các cơ quan Tư pháp địa phương theo các văn bản hướng dẫn nêu trên của Bộ Tư pháp.
Đối với tổ chức các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành Tư pháp, hiện nay Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2069/QĐ-TTg ngày 08/12/2021 về Danh mục dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu thuộc ngành Tư pháp và Quyết định số 2070/QĐ-TTg ngày 08/12/2021 phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của ngành Tư pháp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Đề nghị các Sở Tư pháp nghiên cứu, kiện toàn tổ chức các đơn vị sự nghiệp phù hợp với hai Quyết định nêu trên.
Đồng thời, đề nghị Sở Tư pháp phối hợp với Sở Nội vụ để tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh kiến nghị với Bộ Nội vụ hướng dẫn về cơ cấu tổ chức, biên chế của cơ quan Tư pháp địa phương theo thẩm quyền.

Câu 4. Đề nghị Bộ Tư pháp quy định thống nhất mẫu báo cáo hàng năm về công tác tổ chức cán bộ (04 biểu mẫu kèm theo báo cáo năm) để các đơn vị, địa phương chủ động triển khai thực hiện (UBND tỉnh Hà Tĩnh).
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm:“Định kỳ hàng năm, thực hiện việc rà soát và báo cáo Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ về tình hình tổ chức cán bộ của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã, tổ chức cán bộ pháp chế của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật”. Theo đó, từ năm 2015 đến năm 2020, Bộ Tư pháp đã yêu cầu các địa phương báo cáo về công tác tổ chức cán bộ theo 04 biểu mẫu thống nhất kèm theo Công văn yêu cầu báo cáo công tác tư pháp năm của Bộ.
 Điểm d khoản 1 Điều 6 Thông tư số 07/2020/TT-BNV ngày 20/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện (thay thế Thông tư liên tịch  số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014) tiếp tục quy định “Định kỳ sáu tháng hoặc một năm, thực hiện việc rà soát và báo cáo Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ về tình hình tổ chức cán bộ của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã, tổ chức cán bộ pháp chế của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định pháp luật”, năm 2021, Bộ Tư pháp xây dựng 04 biểu mẫu trên sự kế thừa của 04 biểu mẫu trước đây và có bổ sung 01 cột “Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch” tại Biểu về Phòng Tư pháp và 03 cột (i) Biên chế công chức Tư pháp - Hộ tịch được bố trí làm việc khác (nếu có); (ii) Tổng số chức danh khác kiêm nhiệm công chức Tư pháp - Hộ tịch (nếu có); (iii) “Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch” tại Biểu về công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã để có cơ sở theo dõi, tham mưu đối với công tác tổ chức cán bộ thuộc ngành Tư pháp.
Câu 5. Đề nghị Bộ Tư pháp đề xuất với Bộ Nội vụ xem xét, điều tiết, bổ sung biên chế để bố trí, phân bổ cho các cơ quan chuyên môn thực hiện nhiệm vụ pháp chế theo quy định (UBND tỉnh Hải Dương).
Trả lời:
Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành địa phương để tổng kết 10 năm triển khai thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế. Bộ Tư pháp cũng đã ghi nhận khó khăn, vướng mắc của hầu hết địa phương về bố trí biên chế để thành lập tổ chức pháp chế theo quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và Nghị quyết số 18/NQ-TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Bộ Tư pháp đã phản ánh nội dung này trong Dự thảo Báo cáo Tổng kết 10 năm triển khai thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP và sẽ đề xuất với Chính phủ sửa đổi nhiều nội dung quan trọng như: tổ chức bộ máy pháp chế ở địa phương, chức năng, nhiệm vụ pháp chế, chế độ hỗ trợ cho người làm công tác pháp chế đảm bảo nhân lực để thực hiện hiệu quả công tác pháp chế trên cả nước.
Câu 6. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm ban hành Dự thảo Thông tư của Bộ Tư pháp quy định về Hội đồng quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành Tư pháp (UBND tỉnh Sơn La).

Trả lời: 
Thực hiện Nghị định số 120/2020/NĐ-CP ngày 07/10/2020 của Chính phủ quy định thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập; Kế hoạch thực hiện Nghị định số 101/2020/NĐ-CP, Nghị định số 120/2020/NĐ-CP, Nghị định số 62/2020/NĐ-CP, Nghị định số 106/2020/NĐ-CP (ban hành kèm theo Quyết định số 2661/QĐ-BTP ngày 31/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp) trong năm 2021, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Nội vụ, Uỷ ban nhân dân và Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng Thông tư quy định Hội đồng quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành Tư pháp. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang thực hiện quy trình tổ chức thẩm định dự thảo Thông tư và dự kiến Thông tư được sẽ ban hành trong tháng 12/2021.
Câu 7. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm ban hành Dự thảo Thông tư của Bộ Tư pháp quy định tiêu chí phân loại, điều kiện thành lập, sáp nhập, hợp nhất, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực tư pháp (UBND tỉnh Sơn La).
Trả lời:
Thực hiện Nghị định số 120/2020/NĐ-CP ngày 07/10/2020 của Chính phủ quy định thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập; Kế hoạch thực hiện Nghị định số 101/2020/NĐ-CP, Nghị định số 120/2020/NĐ-CP, Nghị định số 62/2020/NĐ-CP, Nghị định số 106/2020/NĐ-CP (ban hành kèm theo Quyết định số 2661/QĐ-BTP ngày 31/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp) trong năm 2021, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Nội vụ, Uỷ ban nhân dân và Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng Thông tư của Bộ Tư pháp quy định tiêu chí phân loại, điều kiện thành lập, sáp nhập, hợp nhất, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực tư pháp. Hiện nay, Thông tư đang được chỉnh lý, hoàn thiện và thực hiện quy trình thẩm định trước khi Bộ trưởng xem xét, ký bàn hành, dự kiến ban hành trong tháng 12/2021.
XV. HỌC VIỆN TƯ PHÁP
1. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp Bộ, ngành có liên quan tăng cường tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên sâu trong các lĩnh vực đấu giá tài sản; giám định tư pháp; tư vấn pháp luật; hòa giải thương mại; trọng tài thương mại; quản tài viên vì số lượng hành nghề tại tỉnh rất ít (dưới 10 người) - (UBND tỉnh An Giang).
Trả lời:
Năm 2020, Bộ Tư pháp (Học viện Tư pháp) đã triển khai xây dựng chương trình, tài liệu bồi dưỡng về hòa giải thương mại. Đồng thời, Bộ Tư pháp cũng đã xây dựng nhiều chương trình bồi dưỡng về các lĩnh vực tư vấn pháp luật, hòa giải... nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm công tác trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, năm 2021, do tình hình dịch bệnh Covid-19, Bộ Tư pháp không tổ chức được các lớp bồi dưỡng này.
Năm 2022, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan để tổ chức thực hiện các lớp bồi dưỡng chuyên sâu trong các lĩnh vực đấu giá tài sản; giám định tư pháp; tư vấn pháp luật; hòa giải thương mại; trọng tài thương mại; quản tài viên bằng phương thức tập trung hoặc trực tuyến đáp ứng yêu cầu của địa phương, đồng thời đảm bảo công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trong tình hình mới.

2. Đề nghị Bộ Tư pháp tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, ý thức pháp luật nhằm nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp của đội ngũ công chứng viên (UBND tp. Cần Thơ).
Trả lời:
Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã chỉ đạo Học viện Tư pháp xây dựng thành công các chương trình đào tạo, bồi dưỡng này. Tuy nhiên, do tình hình dịch bệnh Covid-19 nên năm 2021, Bộ Tư pháp chưa tổ chức lớp học được. Vì vậy, năm 2022, Bộ Tư pháp tiếp tục chỉ đạo Học viện Tư pháp phối hợp với các đơn vị có liên quan để tổ chức thực hiện các lớp bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, ý thức pháp luật cho đội ngũ công chứng viên bằng phương thức tập trung hoặc trực tuyến đáp ứng yêu cầu của địa phương, đồng thời đảm bảo công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trong tình hình mới.
3. Đề nghị Bộ Tư pháp chỉ đạo Học viện Tư pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ luật sư; tăng cường tính chuyên nghiệp trong hoạt động hành nghề của luật sư và các Tổ chức hành nghề luật sư tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong lĩnh vực thương mại quốc tế; hàng năm tổ chức tập huấn, đào tạo, kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng, đấu giá theo định kỳ để việc phát triển đội ngũ công chứng viên, đấu giá viên và các tổ chức hành nghề công chứng, đấu giá tài sản tại địa phương đáp ứng quy định của pháp luật và yêu cầu thực tiễn cuộc sống. Cần tập trung vào trang bị kiến thức chuyên sâu về kỹ năng giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, tránh việc đào tạo chung chung các kỹ năng phổ biến như tranh tụng trong các vụ án hình sự, dân sự, thương mại (UBND các tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Phú Thọ).
Trả lời:
Trong những năm qua, Bộ Tư pháp luôn quan tâm, chú trọng nâng cao  chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, đặc biệt là các chương trình đào tạo nghề luật sư, đào tạo nghề công chứng. Bộ thường xuyên rà soát, cập nhật, chỉnh sửa, hoàn thiện Chương trình đào tạo nghề Luật sư, đào tạo nghề công chứng nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, đồng thời tăng cường tính thực tiễn trong hoạt động đào tạo nghề. Bên cạnh đó, từ năm 2019 cho tới nay, Bộ Tư pháp đã xây dựng chương trình đào tạo luật sư chất lượng cao và đã triển khai thực hiện được 02 khóa thí điểm với số lượng học viên mỗi khóa khoảng 40 học viên. Năm 2021, Bộ cũng đã tổ chức tuyển sinh khóa 3. Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cũng đã xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình đào tạo luật sư phục vụ hội nhập quốc tế.Từ năm 2017 đến nay, Bộ đã và đang tổ chức được 05 khóa đào tạo Luật sư phục vụ hội nhập quốc tế tại Trụ sở Hà Nội và cơ sở TP. Hồ Chí Minh cho tổng số 229 học viên, trong đó đã có 110 học viên đã được công nhận tốt nghiệp.
Bên cạnh các chương trình đào tạo, Bộ Tư pháp cũng chỉ đạo xây dựng chương trình, tài liệu bồi dưỡng nâng cao cho đội ngũ luật sư; xây dựng chương trình, tài liệu bồi dưỡng kiến thức pháp luật quốc tế và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế cho các đối tượng đang hành nghề luật sư và cán bộ, công chức, viên chức làm công tác trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, do tình hình dịch bệnh Covid-19 nên năm 2021, Bộ Tư pháp chưa tổ chức lớp học được. Vì vậy, trong năm 2022, Bộ Tư pháp sẽ tổ chức triển khai tổ chức các lớp bồi dưỡng này.
4. Bộ Tư pháp cần tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác: chứng thực, xử lý vi phạm hành chính, theo dõi thi hành pháp luật, soạn thảo, thẩm định, kiểm tra, rà soát,... văn bản QPPL từ nguồn kinh phí của ngân sách nhà nước cho công chức thực hiện công tác này tại địa phương (UBND tỉnh Vĩnh Long).
Trả lời:
Trong những năm vừa qua, Bộ Tư pháp đã chỉ đạo Học viện Tư pháp xây dựng chương trình, tài liệu và tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng chuyên sâu về chứng thực, xử lý vi phạm hành chính, theo dõi thi hành pháp luật, xây dựng pháp luật. Năm 2021, do tình hình dịch bệnh nên Bộ tạm dừng tổ chức các lớp bồi dưỡng này. Vì vậy, năm 2022, Bộ Tư pháp tiếp tục chỉ đạo Học viện Tư pháp sẽ phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác: chứng thực, xử lý vi phạm hành chính, theo dõi thi hành pháp luật, soạn thảo, thẩm định, kiểm tra, rà soát,... văn bản quy phạm pháp luật bằng phương thức tập trung hoặc trực tuyến (tùy thuộc vào tình hình kiểm soát dịch bệnh Covid-19 tại các tỉnh, thành trong cả nước). Tuy nhiên, kinh phí thực hiện sẽ do đơn vị cử công chức, viên chức tham gia lớp học chi trả. Bộ Tư pháp chỉ chi trả từ kinh phí từ ngân sách nhà nước cho công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tư pháp được cử tham gia các lớp học theo đúng quy định.
XVI. CỤC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

1. Tiếp tục phối hợp, hỗ trợ việc kết nối liên thông giữa Hệ thống thông tin một cửa liên thông điện tử của tỉnh với Phần mềm đăng ký khai sinh điện tử của Bộ Tư pháp (UBND tỉnh Bắc Giang).

Đề nghị Bộ Tư pháp có giải pháp hỗ trợ kết nối các hệ thống phần mềm giảm thiểu áp lực giải quyết các thủ tục hành chính đối với công chức Tư pháp - Hộ tịch tại địa phương (UBND tỉnh Cao Bằng).

Đề nghị Bộ Tư pháp chỉ đạo Cục Công nghệ thông tin phối hợp, có giải pháp đồng bộ, tích hợp các hệ thống phần mềm của ngành tư pháp với hệ thống Một cửa điện tử của tỉnh, giảm thiểu các khó khăn vướng mắc trong giải quyết các thủ tục hành chính của lĩnh vực tư pháp ở các địa phương (Ý kiến của UBND tỉnh Thái Nguyên).

Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan tích hợp, liên thông phần mềm đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến của Bộ Tư pháp vào Cổng dịch vụ công để tạo thuận lợi cho công dân khi thực hiện thủ tục đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp bằng hình thức trực tuyến. Vì hiện tại, cùng một thủ tục đăng ký cấp Phiếu Lý lịch tư pháp trực tuyến nhưng có đến 02 phần mềm (Bộ Tư pháp và UBND Tỉnh) tiếp nhận hồ sơ đăng ký, việc này đã gây khó khăn cho công dân khi thực hiện, cũng như cán bộ tiếp nhận hồ sơ (UBND tỉnh Đồng Tháp).

Đề nghị Bộ Tư pháp Hướng dẫn việc thực hiện kết nối liên thông giữa các phần mềm, cơ sở dữ liệu chuyên ngành do Bộ Tư pháp cung cấp với Cổng dịch vụ công của tỉnh và các phần mềm, cơ sở dữ liệu chuyên ngành của các cơ quan có liên quan trong việc giải quyết thủ tục hành chính liên thông (UBND tỉnh Tuyên Quang).

Trả lời:
Về các kiến nghị này, trong các năm từ 2018 - 2020, Bộ Tư pháp đã có các văn bản hướng dẫn địa phương thực hiện, cụ thể như sau:
- Công văn số 72/CNTT-HTTT&CSDL ngày 05/02/2018 gửi Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc kết nối hệ thống thông tin với Phần mềm Quản lý lý lịch tư pháp dùng chung;
- Công văn số 2823/BTP-CNTT ngày 29/7/2019 gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc kết nối, liên thông dữ liệu hộ tịch (Với 8 loại dữ liệu đăng ký hộ tịch gồm đăng ký khai sinh; cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; đăng ký kết hôn; đăng ký nhận cha, mẹ, con; ghi chú việc ly hôn, hủy việc kết hôn đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài; đăng ký giám hộ; đăng ký chấm dứt giám hộ và đăng ký khai tử. Năm 2021, Bộ Tư pháp đang tiếp tục mở rộng thêm đối với các nghiệp vụ cấp bản sao trích lục; cấp xác nhận thông tin hộ tịch và trả bản điện tử kết quả giải quyết TTHC trong lĩnh vực hộ tịch);
- Công văn số 2636/BTP-CNTT ngày 21/7/2020 gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc hướng dẫn triển khai tích hợp một số dịch vụ công của ngành Tư pháp lên Cổng Dịch vụ công Quốc gia,

Trong các văn bản nêu trên, Bộ Tư pháp đã thông tin với các địa phương giải pháp kết nối liên thông Hệ thống phần mềm lý lịch tư pháp và Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch dùng chung của Bộ Tư pháp với Hệ thống một cửa điện tử dùng chung của tỉnh/thành phố (không kết nối trực tiếp với Cổng dịch vụ công của địa phương) thông qua Trục NGSP của Bộ Thông tin và Truyền thông. Khi triển khai thực hiện giải pháp này, địa phương sẽ không phải nhập lại các thông tin tương ứng đã có trên Hệ thống một cửa điện tử vào Hệ thống phần mềm lý lịch tư pháp và Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch dùng chung. Đến nay đã có hơn 50 địa phương triển khai thử nghiệm kết nối thành công với hơn 20 địa phương triển khai áp dụng chính thức.
Vì vậy, Bộ Tư pháp đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh Đồng Tháp, Bắc Giang, Cao Bằng, Thái Nguyên và Tuyên Quang yêu cầu Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với Sở Tư pháp chủ động nghiên cứu, thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp tại các văn bản nêu trên.

2. Đề nghị Bộ Tư pháp khẩn trương thực hiện khắc phục lỗi của Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch; cấp tài khoản cho đơn vị hành chính mới được sắp xếp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang (UBND tỉnh Bắc Giang).

Đề nghị Bộ Tư pháp chỉ đạo Cục Công nghệ thông tin sớm cập nhật việc thay đổi tên một số đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Hải Dương trên Hệ thống thông tin quản lý hộ tịch do thay đổi địa danh theo Nghị quyết số 788/NQ-UBTVQH14 ngày 16/10/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc tỉnh Hải Dương (UBND tỉnh Hải Dương).

Đề nghị Bộ Tư pháp xem xét, chỉ đạo Cục Công nghệ thông tin và các đơn vị liên quan cập nhật kịp thời, điều chỉnh, bổ sung tên các đơn vị hành chính cấp xã đã được đổi tên, điều chỉnh địa giới hành chính theo quyết định của cấp có thẩm quyền trên các phần mềm, cơ sở dữ liệu chuyên ngành tư pháp để địa phương thực hiện được thuận lợi (UBND các tỉnh Quảng Trị, Vĩnh Long).

Trả lời:
a) Thực trạng tình hình xử lý danh mục tên đơn vị hành chính
Những thay đổi về địa danh hành chính trong thời gian qua gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc thiết kế và xây dựng các Hệ thống thông tin, Phần mềm nghiệp vụ của Bộ, vì khi đơn vị hành chính có biến động, cần phải thực hiện sáp nhập, chia tách dữ liệu của đơn vị có biến động về đúng đơn vị có thẩm quyền quản lý. Đặc biệt đối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.
Bộ đã chủ động phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) để cung cấp bản điện tử các Văn bản thông báo mã số và tên đơn vị hành chính mới. Đến tháng 8/2021, Bộ mới nhận được đầy đủ 23 văn bản công bố mã số và tên đơn vị hành chính mới được thay đổi từ năm 2004 đến nay cho hàng ngàn đơn vị hành chính được tổ chức, sắp xếp lại trên cơ sở hơn 600 Nghị định Chính phủ và Nghị quyết của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội.

Bộ đang tiến hành cập nhật dữ liệu vào danh mục các đơn vị hành chính được thay đổi từ năm 2004 đến nay. Tuy nhiên, nhằm đảm bảo việc cập nhật, tạo lập chính xác liên kết giữa các đơn vị hành chính cũ và đơn vị hành chính hiện tại, đồng thời tiến hành rà soát, phân loại, chuyển đổi các dữ liệu đã được tạo lập của các đơn vị có biến động vào các đơn vị có thẩm quyền quản lý. Do đó, đến nay mới chỉ hoàn thành việc cập nhật biến động đơn vị hành chính tại 4/23 văn bản của Tổng cục Thống kê (ứng với 58 Nghị định của Chính phủ về thay đổi địa danh hành chính được ban hành từ năm 2004 đến giữa năm 2006).
b) Hướng xử lý trong giai đoạn Bộ Tư pháp chưa hoàn thành việc cập nhật danh mục đơn vị hành chính
Trong giai đoạn Bộ Tư pháp chưa hoàn thành việc cập nhật danh mục đơn vị hành chính và dữ liệu đơn vị hành chính chưa được đồng bộ, cập nhật vào Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch và các Phần mềm khác của Bộ Tư pháp, đối với các đơn vị có thay đổi đơn vị hành chính do đổi tên, thay đổi loại hình, sáp nhập, chia tách, đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh chỉ đạo chỉ đạo Sở Tư pháp:
- Tiếp tục thực hiện cấp tài khoản cho đơn vị mới theo đúng hướng dẫn của Bộ Tư pháp tại Công văn số 1183/BTP-CNTT ngày 31/3/2020 và theo mã đơn vị hành chính mới do Tổng cục Thống kê công bố;
- Khi có sáp nhập các địa danh hành chính, nếu Tổng cục Thống kê thông báo giữ mã của đơn vị hành chính cũ nào thì tương ứng phải cấp tài khoản cho đơn vị hành chính mới trên đơn vị hành chính cũ được giữ lại mă thống kê, đồng thời, khóa tài khoản của tất cả các đơn vị hành chính đã được Tổng cục Thống kê thông báo khóa mã.

Sau khi Bộ Tư pháp hoàn thành việc cập nhật danh mục đơn vị hành chính và đồng bộ với Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch cũng như với các Phần mềm khác của Bộ, Bộ sẽ chỉ đạo Cục Công nghệ thông tin phối hợp với Sở Tư pháp các địa phương để hỗ trợ kiểm tra, chuẩn hóa lại thông tin và dữ liệu cho các đơn vị.

3. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Công an duy trì kết nối ổn định Phần mềm đăng ký khai sinh với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để đảm bảo kịp thời cấp số định danh cho trẻ em khi đăng ký khai sinh, khắc phục tình trạng chậm muộn hồ sơ đăng ký khai sinh của công dân (UBND tỉnh Bắc Giang).

Đề nghị Bộ Tư pháp có sự phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an trong việc cấp mã số định danh khi đăng ký khai sinh trên phần mềm hộ tịch dùng chung đảm bảo sự liên thông không tắt nghẽn gây khó khăn cho việc quản lý và đăng ký khai sinh cho công dân (UBND các tỉnh: Đồng Tháp, Nghệ An).

Đề nghị Bộ Tư pháp (Cục Công nghệ thông tin, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực) phối hợp với Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tư xã hội - Bộ Công an khắc phục vấn đề bị báo lỗi không thực hiện được việc cấp số định danh cá nhân khi đăng ký khai sinh hoặc một người có hai số định danh cá nhân để việc cấp số định danh cá nhân được thông suốt, đúng thời gian quy định, không làm gián đoạn thủ tục đăng ký khai sinh (UBND tỉnh Quảng Trị).

Trả lời:
Trong thời gian vừa qua, rất nhiều trường hợp đăng ký khai sinh đủ điều kiện được cấp số định danh cá nhân nhưng bị chậm hoặc bị từ chối cấp số định danh cá nhân là do 3 nguyên nhân chính:
- Một là, do Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư có thay đổi mô hình tiếp nhận và xử lý cấp số định danh cá nhân từ mô hình 1 cấp kiểm tra sang 2 cấp kiểm tra. Do đó, một số thời điểm hệ thống của Bộ Công an bị quá tải nên dẫn đến việc trả kết quả cấp số định danh bị chậm;
- Hai là, do có thay đổi một số quy tắc trong việc kiểm tra trùng thông tin công dân trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nhằm phát hiện các trường hợp nhập 2 lần hoặc được đăng ký khai sinh ở 2 nơi nên nhiều trường hợp dữ liệu đăng ký khai sinh đã bị Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư từ chối cấp số định danh cá nhân và yêu cầu công chức tư pháp hộ tịch phải chủ động kiểm tra, xác minh lại thông tin;
- Ba là, đối với công dân đăng ký khai sinh trước ngày 01/7/2021 nhiều khả năng đã được thu thập thông tin và được cấp Số định danh cá nhân trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Vì vậy, Bộ Công an sẽ phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện cấp Số định danh cá nhân cho các trường hợp này theo quy trình mới.

Các đơn vị chuyên môn của Bộ (Cục Công nghệ thông tin và Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực) đã có trao đổi, phản ánh với Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư - Bộ Công an và đã có điều chỉnh phương án xử lý kỹ thuật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Do đó, từ đầu tháng 11 đến nay, số lượng hồ sơ bị chậm hoặc bị chặn cấp số định danh cá nhân đã giảm đáng kể.
Đối với những trường hợp vẫn bị chậm hoặc bị chặn cấp số định danh, bên cạnh hướng dẫn của Bộ Tư pháp tại Công văn 3160/BTP-CNTT ngày 13/9/2021 về việc hướng dẫn xử lý một số vướng mắc trong tiếp nhận số định danh cá nhân khi cập nhật dữ liệu khai sinh vào Phần mềm đăng ký khai sinh điện tử, dự kiến trong tháng 12/2021, Bộ Tư pháp sẽ có văn bản hướng dẫn bổ sung gửi các địa phương nhằm hỗ trợ các địa phương có thể chủ động tiến hành xác nhận thông tin nếu như đã có thể khẳng định được việc đăng ký khai sinh là đúng quy định của pháp luật về hộ tịch.

4. Đề nghị Bộ Tư pháp nâng phần mềm hộ tịch, chỉnh sửa biểu mẫu hộ tịch trên phần mềm để khi xuất dữ liệu chính xác với biểu mẫu quy định tại Thông tư số 04/2020/TT-BTP (UBND tỉnh Bến Tre).

Trả lời:
Ngày 25/10/2021, Bộ Tư pháp đã hoàn thành việc cập nhật các biểu mẫu hộ tịch được quy định tại Thông tư số 04/2020/TT-BTP của Bộ Tư pháp và đã đăng thông báo về việc này trên Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch dùng chung. Do đó, từ 25/10/2021 đến nay các Cơ quan đăng ký hộ tịch tại các địa phương trên toàn quốc đã có thể trích xuất các biểu mẫu hộ tịch từ Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung và Phần mềm đăng ký khai sinh điện tử theo đúng quy định tại Thông tư số 04/2020/TT-BTP.

5. Bộ Tư pháp cần nâng, khắc phục lỗi kịp thời hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch để đảm bảo cho công tác đăng ký, quản lý hộ tịch ở địa phương; quan tâm nhiều hơn đến nhân sự, tổng đài hỗ trợ để hỗ trợ, giải quyết vướng mắc kịp thời cho địa phương (UBND các tỉnh: Nghệ An, Phú Thọ, Tuyên Quang).

Trả lời:
Hiện nay, Bộ Tư pháp đã bố trí 07 công chức, viên chức tham gia Bộ phận hỗ trợ của Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch, tuy nhiên, đây đều là các công chức, viên chức kiêm nhiệm từ các Phòng và Trung tâm thuộc Cục Công nghệ thông tin nên những thành viên này cũng thường xuyên phải dành thời gian xử lý các nhiệm vụ chuyên môn. Bên cạnh đó, trong năm 2021, tình hình dịch Covid-19 tại Hà Nội có nhiều diễn biến phức tạp, theo chủ trương chung của Bộ, có những thời điểm Cục Công nghệ thông tin phải giảm số lượng người làm việc trực tiếp tại cơ quan xuống 50%. Do đó, có những thời điểm chỉ có từ 2 đến 3 người trực tại Bộ phận hỗ trợ, trong khi tổng số người sử dụng tham gia sử dụng Hệ thống trên toàn quốc lên tới hơn 18.000 người dùng, vì vậy, có những thời điểm Bộ phận hỗ trợ đã không thể tiếp nhận được hết tất cả các cuộc gọi từ các địa phương.
Trường hợp khi gặp vướng mắc, người dùng đã gọi điện về Bộ phận hỗ trợ nhiều lần nhưng chưa được hỗ trợ, đề nghị kịp thời gửi ý kiến về Bộ phận hỗ trợ thông qua email hotich@moj.gov.vn để được hỗ trợ, hướng dẫn.
Trong thời gian tới, cùng với việc khắc phục các hạn chế còn tồn tại của Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch; Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu, bố trí thêm nhân sự cho Bộ phận hỗ trợ của Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch để kịp thời hỗ trợ, giải quyết vướng mắc cho các địa phương.

6. Để việc quản lý nuôi con nuôi thống nhất trên cả nước, phục vụ công tác phân cấp, đồng thời khắc phục trường hợp UBND cấp xã nơi thường trú mới của người nhận con nuôi không thể biết mối quan hệ nuôi con nuôi để theo dõi, nhắc nhở cha, mẹ nuôi thực hiện báo cáo tình hình phát triển của trẻ em theo quy định. Đề nghị Bộ Tư pháp (Cục Công nghệ thông tin) bổ sung chức năng nuôi con nuôi vào Phần mềm đăng ký và quản lý hộ tịch hoặc xây dựng cơ sở dữ liệu nuôi con nuôi riêng (UBND tỉnh Đồng Tháp).

Trả lời:
Từ năm 2016 đến nay, trên Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch, Cục Công nghệ thông tin đã triển khai cho các địa phương Phân hệ nghiệp vụ đăng ký nuôi con nuôi trong nước tại Ủy ban nhân dân cấp xã, đồng thời, cho phép các Phòng Tư pháp cấp huyện có thể tra cứu và theo dõi dữ liệu đăng ký nuôi con nuôi của các Ủy ban nhân dân cấp xã trực thuộc, đây là những tiện ích ban đầu, hỗ trợ cho các địa phương trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác nuôi con nuôi. Nhằm tiếp tục hỗ trợ các địa phương ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đăng ký nuôi con nuôi trong nước, năm 2021, Bộ Tư pháp đang phát triển bổ sung một số tiện tích cho Phân hệ đăng ký nuôi con nuôi trong nước trên Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch. Dự kiến các tiện ích trên sẽ chính thức được triển khai từ Quý I/2022.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn 2021 - 2025, Bộ Tư pháp đã phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án “Xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch”. Trong đó sẽ nâng cấp tổng thể các phần mềm phục vụ công tác đăng ký quản lý hộ tịch, quốc tịch, con nuôi. Khi đó, Cơ sở dữ liệu nuôi con nuôi thống nhất (bao gồm cả đăng ký nuôi con nuôi trong nước và đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài) sẽ là một cơ sở dữ liệu thành phần của Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc.

7. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm ban hành hướng dẫn về các tiêu chuẩn CSDL chuyên ngành, phục vụ cho việc triển khai xây dựng các CSDL; kết nối chia sẻ với các CSDL chuyên ngành khác; ban hành các quy định về chuẩn CSDL hộ tịch, công chứng, quản lý XLVPHC,... làm cơ sở cho các địa phương chủ động trong việc thực hiện số hóa, xây dựng CSDL (UBND TP. Hà Nội).

Trả lời:
- Đối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, và Cơ sở dữ liệu xử lý vi phạm hành chính: Hiện nay, Bộ Tư pháp đã phê duyệt chủ trương đầu tư xây dựng các cơ sở dữ liệu. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục chỉ đạo Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực và Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật chủ trì, phối hợp với Cục Công nghệ thông tin xây dựng, ban hành hướng dẫn về tiêu chuẩn Cơ sở dữ liệu hộ tịch có liên quan.
Tuy nhiên, ngay từ năm 2019, để có căn cứ cho các địa phương thực hiện kết nối, liên thông dữ liệu đăng ký hộ tịch giữa Hệ thống một cửa điện tử dùng chung của địa phương với Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch của Bộ Tư pháp thông qua Trục NGSP của Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục Công nghệ thông tin đã chủ động xây dựng Tài liệu hướng dẫn kết nối, trao đổi dữ liệu, trong đó mô tả cấu trúc dữ liệu của 08 nghiệp vụ hộ tịch gồm: (i) đăng ký khai sinh; (ii) cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; (iii) đăng ký kết hôn; (iv) đăng ký nhận cha, mẹ, con; (v) ghi chú việc ly hôn, hủy việc kết hôn đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài; (vi) đăng ký giám hộ; (vii) đăng ký chấm dứt giám hộ; (viii) đăng ký khai tử. Tài liệu này vẫn đang được Cục Tin học hóa - Bộ Thông tin và Truyền thông và Sở Thông tin và Truyền thông các địa phương áp dụng để kết nối, liên thông dữ liệu từ năm 2019 đến nay.
- Đối với việc thực hiện Số hóa Sổ hộ tịch: Đề nghị Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội giao các đơn vị có liên quan nghiên cứu Công văn số 1437/BTP-CNTT ngày 25/4/2019 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn Số hóa Sổ hộ tịch để chủ động có phương án triển khai thực hiện.

8. Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp đã được UBND tỉnh trang bị phòng họp trực tuyến từ năm 2020, đề nghị Bộ Tư pháp cấp tài khoản kết nối vào hệ thống trực tuyến của Bộ, nhằm tạo thuận lợi cho Sở Tư pháp tham dự các cuộc họp trực tuyến do Bộ Tư pháp tổ chức (UBND tỉnh Đồng Tháp).
Trả lời:
Hiện nay, số lượng tài khoản đăng nhập vào Hệ thống Hội nghị truyền hình của Bộ chỉ có giới hạn, đã được cấp cho các đơn vị thuộc Bộ và các Cục Thi hành án dân sự. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ giao cho các đơn vị chuyên môn nghiên cứu giải pháp, triển khai mở rộng Hệ thống Hội nghị truyền hình của Bộ đối với Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố.
9. Đề nghị Bộ Tư pháp xem xét để đề xuất việc sáp nhập chức năng cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật với Công báo nhằm bảo đảm việc cập nhật văn bản được thực hiện kịp thời, đầy đủ, tiết kiệm về nhân lực và thời gian (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).
Trả lời:
Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật (địa chỉ: vbpl.vn) đang hoạt động theo quy định tại Nghị định số 52/2015/NĐ-CP ngày 28/5/2015 của Chính phủ về Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Về cơ bản, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật đã đáp ứng được nhu cầu tra cứu tìm hiểu thông tin văn bản quy phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân. Đối với đề xuất sáp nhập chức năng cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật với Công báo, trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ xem xét, nghiên cứu nâng cấp Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong đó tính đến phương án tích hợp, chia sẻ thông tin với Công báo Chính phủ.
XVII. THANH TRA BỘ
1. Đề nghị Bộ Tư pháp tiếp tục rà soát, tham mưu, kiến nghị Chính phủ bổ sung các hành vi vi phạm phát sinh trên thực tế vào Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định XPVPHC trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (UBND các tỉnh, thành phố: Đà Nẵng,Quảng Trị).
Trả lời:
Điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi bổ sung tại Nghị định 97/2017/NĐ-CP CP ngày18/8/2017) quy định: “1. Việc quy định hành vi vi phạm hành chính phải bảo đảm các yêu cầu sau đây: a) Có vi phạm các quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm, điều cấm của pháp luật về trật tự quản lý hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước”. Do đó, đề nghị  UBND thành phố Đà Nẵng, UBND tỉnh Quảng Trị phản ánh cụ thể các hành vi vi phạm phát sinh trên thực tế gửi về Bộ Tư pháp. Trường hợp, đó là các hành vi vi phạm quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm, điều cấm của pháp luật về trật tự quản lý hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước thì sẽ tổng hợp, bổ sung vào Nghị định số 82/2020/NĐ-CP trong quá trình sửa đổi, bổ sung. Trường hợp các hành vi vi phạm phát sinh trên thực tiễn nhưng chưa phải là hành vi vi phạm quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm, điều cấm của pháp luật về trật tự quản lý hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước thì Bộ Tư pháp sẽ xem xét để kiến nghị các cơ quan quản lý nhà nước cập nhật, bổ sung vào các văn bản pháp luật chuyên ngành đáp ứng yêu cầu bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, trên cơ sở đó, sẽ xem xét bổ sung vào Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.
2. Đề nghị Thanh tra Bộ Tư pháp thường xuyên tổ chức tập huấn bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ làm công tác thanh tra; triển khai đầy đủ, kịp thời các quy định mới của pháp luật về lĩnh vực liên quan đến hoạt động thanh tra tại địa phương; cần thống nhất tổ chức, hệ thống thanh tra ngành Tư pháp ổn định, không sáp nhập vào các phòng chuyên môn khác (UBND tỉnh Nghệ An).
Trả lời:
- Về việc thường xuyên tổ chức tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác thanh tra, triển khai đầy đủ, kịp thời các quy định mới của pháp luật về lĩnh vực liên quan đến hoạt động thanh tra tại địa phương:
Năm 2021, Bộ Tư pháp đã tổ chức 02 Hội nghị triển khai tập huấn chuyên sâu về Nghị định số 82/2020/NĐ-CP và xử phạt vi phạm hành chính tại 02 miền Bắc, Nam cho các Sở Tư pháp trên toàn quốc. Đồng thời, theo Kế hoạch số 2586/QĐ-BTP ngày 28/12/2020 của Bộ Tư pháp về kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức năm 2021, Bộ Tư pháp có tổ chức 01 lớp tập huấn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành và nghiệp vụ giải quyết khiếu nại tại Học viện Tư pháp. Học viện đã thông báo chiêu sinh đến các Sở Tư pháp nhưng do tình hình dịch Covid-19 nên chưa tổ chức được.
 Trong thời gian tới, căn cứ vào điều kiện thực tế và nhu cầu của các công chức, thanh tra viên của Thanh tra các Sở Tư pháp, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ cho công chức làm công tác thanh tra tại các Sở Tư pháp và cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành của Bộ.
- Về việc thống nhất tổ chức, hệ thống thanh tra ngành Tư pháp ổn định, không sáp nhập vào các phòng chuyên môn khác:
Bộ Tư pháp đồng tình với kiến nghị này. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 21 Luật Tổ chức chính quyền địa phương thì việc quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban nhân dân cấp tỉnh./.
                                                                          -  BỘ TƯ PHÁP -

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

VĂN BẢN CHỈ ĐẠO ĐIỀU HÀNH

410/UBND-VH

Nội dung tuyên truyền tháng 5 năm 2022

Lượt xem:21 | lượt tải:39

129/KH-UBND

Tham gia Hội thi Tìm hiểu kiến thức pháp luật về gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình tỉnh Lào Cai năm 2022.

Lượt xem:17 | lượt tải:6

259/TB-UBND

Thông báo công khai các hộ gia đình, cá nhân đăng ký giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất vào kế hoạch sử dụng đất năm 2022 của thành phố Lào Cai

Lượt xem:19 | lượt tải:14

257/TB-UBND

Thông báo tuyển dụng viên chức

Lượt xem:20 | lượt tải:5

185/KH-UBND

Kế hoạch triển khai Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025” và năm 2022 tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Lượt xem:21 | lượt tải:12

948/QĐ-UBND

Thành lập Hội đồng trọng tài lao động tỉnh Lào Cai và bổ nhiệm trọng tài viên lao động nhiệm kỳ 2022 - 2026

Lượt xem:19 | lượt tải:11

341/UBND-TDCS

Cho vay đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh gia đình khó khăn để mua máy tính, thiết bị phục vụ học tập trực tuyến

Lượt xem:48 | lượt tải:19

495/QĐ-TTg

Phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch vùng Trung du và miền núi phía bắc thời kỳ 2021-2030

Lượt xem:42 | lượt tải:12
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập:10
  • Tổng lượt truy cập: 5,149,412
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây